Tình hình triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 tại Hà Giang
Sign In

Tình hình triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 tại Hà Giang

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sau đây gọi tắt là Luật năm 2015) được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày 22/6/2015 và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016. Luật năm 2015 thay thế Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004.

Luật năm 2015 có nhiều nội dung đổi mới quan trọng, mang tính đột phá, đã khắc phục được một bước cơ bản những khó khăn, vướng mắc, tồn tại nhiều năm trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật như: quy định rõ hơn khái niệm văn bản quy phạm pháp luật, giảm bớt một số loại văn bản quy phạm pháp luật (chỉ thị, Thông tư liên tịch); quy định quy trình xây dựng chính sách trước quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước từ giai đoạn lập đề nghị, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, góp ý đến ban hành văn bản quy phạm pháp luật…
 

Với tính chất và tầm quan trọng của Luật năm 2015, Sở Tư pháp đã chủ động phối hợp với các ngành, đơn vị có liên quan thực hiện nhiều hoạt động nhằm triển khai thi hành Luật kịp thời, thống nhất và đạt được những kết quả nhất định.  Tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành văn bản để chỉ đạo tình hình triển khai thực hiện Luật năm 2015, gồm những văn bản sau: Kế hoạch số 195/KH-UBND ngày 23 tháng 12 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Hà Giang; Chỉ thị số 1754/CT-UBND ngày 05 tháng 8 năm 2016 triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Hà Giang; Công văn số 3667/UBND-NC ngày 14 tháng 9 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành văn bản QPPL; Quyết định số 268/QĐ-UBND ngày 27 tháng 02 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Chương trình nâng cao hiệu quả công tác xây dựng văn bản QPPL giai đoạn 2016 – 2020 trên địa bàn tỉnh Hà Giang làm cơ sở để các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh nâng cao chất lượng đội ngũ công chức trực tiếp làm công tác soạn thảo văn bản QPPL.
Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho Sở Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn các nội dung của Luật năm 2015 để đảm bảo tình hình thi hành triển khai Luật năm 2015 được hiệu quả, thống nhất và đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức triển khai thi hành Luật.
Tổng số văn bản QPPL được Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành từ khi Luật năm 2015 có hiệu lực là 71 văn bản; trong đó có 41 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh; 30 Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh; tham gia ý kiến vào hơn 300 dự thảo văn bản. Công tác kiểm tra, rà soát văn bản QPPL: Sở Tư pháp thực hiện tự kiểm tra 41 văn bản QPPL do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành. Qua kiểm tra văn bản phát hiện những văn bản có sai sót về thể thức trình bày văn bản đã kịp thời đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý văn bản.
Từ khi Luật được Quốc hội thông qua Sở Tư pháp đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang chỉ đạo tổ chức triển khai thi hành luật. Tổ chức 01 hội nghị triển khai Luật năm 2015 cho hơn 400 lượt đại biểu là lãnh đạo và chuyên viên các Sở, ban, ngành; Lãnh đạo HĐND và UBND các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh. 02 lớp tập huấn chuyên sâu về công tác xây dựng, soạn thảo, kiểm tra, rà soát văn bản QPPL cho hơn 100 đại biểu là lãnh đạo và cán bộ pháp chế các Sở, ngành; Lãnh đạo và chuyên viên HĐND và UBND các huyện, thành phố.
Trên cơ sở triển khai Kế hoạch triển khai thi hành Luật năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh, UBND các huyện, thành phố xây dựng Kế hoạch triển khai thi hành Luật năm 2015 và tổ chức phổ biến Luật năm 2015 trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý.
Ngoài những kết quả đã đạt được trong quá trình tổ chức triển khai thi hành Luật năm 2015 còn một số khó khăn, vướng mắc như sau:
1. Theo quy định tại điều 12 về sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản QPPL “Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó…”. Đối với quy định này có những vướng mắc sau:
- Việc ban hành văn bản QPPL để bãi bỏ văn bản QPPL chưa phù hợp với khái niệm “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này” vì nội dung của văn bản bãi bỏ không chứa quy phạm pháp luật.
- Việc ban hành văn bản bãi bỏ theo trình tự, thủ tục của văn bản QPPL dẫn đến việc kéo dài thời gian của văn bản (thực hiện từ quy trình lập đề nghị, lấy ý kiến, thẩm định, trình kỳ họp UBND tỉnh, trình kỳ họp HĐND tỉnh…), quy định này không mang tính kịp thời trong việc bãi bỏ văn bản. Trong khi đó tại điều 146 quy định các trường hợp xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn không có trường hợp bãi bỏ.
- Việc ban hành văn bản bãi bỏ theo hình thức QPPL dẫn đến bất cập trong việc thực hiện hệ thống hoá văn bản QPPL vì văn bản bãi bỏ sẽ tồn tại rất lâu trừ khi Luật năm 2015 hết hiệu lực thì các văn bản bãi bỏ mới hết hiệu lực theo, mặt khác Luật năm 2015 không quy định thời điểm kết thúc của văn bản QPPL ban hành bãi bỏ văn bản QPPL. Do đó, khi hệ thống hóa các văn bản QPPL còn hiệu lực sẽ tồn tại rất nhiều loại văn bản này.
- Chưa quy định rõ hình thức xử lý văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng ban hành không đúng hình thức, thẩm quyền vì văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không ban hành theo đúng hình thức, thẩm quyền được điều chỉnh theo Nghị định 34/2016/NĐ-CP tuy nhiên hình thức của văn bản không phải là hình thức văn bản QPPL do đó khó khăn trong việc ban hành hình thức văn bản để xử lý văn bản trái này (ví dụ: phát hiện ra văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không ban hành theo đúng trình tự, thủ tục khi đề nghị bãi bỏ thì áp dụng hình thức bãi bỏ bằng văn bản hành chính hay văn bản QPPL vì nếu xét theo thể thức thì ban hành văn bản bãi bỏ cá biệt, nếu xét theo nội dung thì ban hành văn bản QPPL bãi bỏ theo quy định tại tiểu mục 4 chương 8 Nghị định 34/2016/NĐ-CP. Tuy nhiên trên thực tế khó khăn trong việc áp dụng).
2. Một số nội dung của Luật năm 2015 quy định mang tính chất chung chung dẫn đến khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện ví dụ như tại điểm b khoản 1 điều 153 quy định về ngưng hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật “Cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật quyết định ngưng hiệu lực của văn bản đó trong một thời hạn nhất định để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội phát sinh”.
3. Theo quy định tại điều 30 Luật năm 2015 quy định “Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao”. Theo quy định này thì cấp huyện, cấp xã chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật khi được Luật giao tuy nhiên hiện nay một số Nghị định, Thông tư đang còn hiệu lực giao cho UBND các cấp ban hành văn bản QPPL…( Ví dụ: điểm a khoản 2 điều 186 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản QPPL có quy định: “trách nhiệm của UBND các cấp: Quy định cụ thể về đầu mối chủ trì, cơ chế phân công phối hợp, điều kiện bảo đảm cho công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật”…).
4. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh trong thời hạn 30 ngày để tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến. Tuy nhiên, việc đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh chỉ mang tính hình thức, thủ tục bắt buộc, vì không có cá nhân, tổ chức nào tham gia đóng góp ý kiến trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh. Đồng thời, việc lấy ý kiến góp ý hiện nay chỉ thực hiện đối với các cơ quan, tổ chức có liên quan chưa thực sự lấy ý kiến rộng rãi đối với các cá nhân là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo đúng quy định của Luật năm 2015.
Để khắc phục một số khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đề nghị các Bộ Tư pháp và các Bộ có liên quan quan tâm thực hiện các nội dung sau:
1.Tiếp tục quan tâm chỉ đạo việc triển khai thi hành Luật năm 2015 và sớm có thông tư hướng dẫn áp dụng thống nhất một số quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Có đánh giá sơ kết tổ chức triển khai, thi hành Luật năm 2015.
2. Xây dựng các Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ chuyên sâu những nội dung của Luật năm 2015.
3. Tổ chức các hội nghị tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về nghiệp vụ xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; kỹ năng xây dựng chính sách, phân tích chính sách; báo cáo đánh giá tác động của chính sách; nghiệp vụ thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, quy phạm pháp luật cho cán bộ, công chức làm công tác xây dựng và kiểm tra văn bản cũng như cán bộ pháp chế các cơ quan chuyên môn ở địa phương.
4. Bộ Tài chính ban hành Thông tư thay thế Thông tư số 122/2011/TTLT-BTC-BTP quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL. Theo đó, cần quy định chế độ chi đối với công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL; tăng các chế độ chi đối với công tác kiểm tra văn bản./.
Cam Anh Vân