Bộ Tư pháp xử lý hiệu lực của một số văn bản QPPL không còn phù hợp
Sign In

Bộ Tư pháp xử lý hiệu lực của một số văn bản QPPL không còn phù hợp

Ngày 02/02/2018, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký ban hành Thông tư số 01/2018/TT-BTP bãi bỏ một số văn bản QPPL do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành, liên tịch ban hành, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 3 năm 2018.

Thời gian qua, Cục Kiểm tra văn bản QPPL đã phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ thực hiện rà soát văn bản QPPL và thấy một số văn bản QPPL do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành hoặc liên tịch ban hành (do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo) trong các lĩnh vực thi hành án dân sự, quốc tịch, bổ trợ tư pháp, kiểm soát thủ tục hành chính, cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập đã không còn được áp dụng trên thực tế nhưng chưa có căn cứ pháp lý để xác định hết hiệu lực theo quy định tại Điều 81 Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 và Điều 154 Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015. Về nguyên tắc, hiệu lực của các văn bản này vẫn được xác định ở trạng thái “còn hiệu lực”.
Thực hiện quy định của Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản QPPL, Cục Kiểm tra văn bản QPPL - Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan và các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp xây dựng và trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký ban hành Thông tư số 01/2018/TT-BTP ngày 02/02/2018 bãi bỏ các văn bản nêu trên. Theo đó, Thông tư số 01/2017/TT-BTP đã bãi bỏ toàn bộ 14 văn bản và bãi bỏ một phần nội dung 03 văn bản. Cụ thể:
- 14 văn bản bãi bỏ toàn bộ bao gồm:
(i) Thông tư số 04/1999/TT-BTP ngày 11 tháng 01 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về chế độ sử dụng máy điện thoại trong các tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự địa phương;
(ii) Thông tư số 07/2002/TT-BTP ngày 16 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài;
(iii) Quyết định số 1145/2005/QĐ-BTP ngày 18 tháng 5 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng tuyển chọn Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự;
(iv) Thông tư số 06/2005/TT-BTP ngày 24 tháng 6 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn tuyển chọn bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chức danh chấp hành viên;
(v) Thông tư liên tịch số 08/2005/TTLT-BTP-BTC ngày 16 tháng 9 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chế độ quản lý, cấp phát thẻ chấp hành viên trang phục, phù hiệu của công chức làm công tác thi hành án dân sự;
(vi) Thông tư liên tịch số 01/2006/TTLT-BTP-BNV-BTC ngày 23 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 233/2005/QĐ-TTg ngày 26 tháng 9 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề đối với Chấp hành viên và Công chứng viên;
(vii) Thông tư liên tịch số 05/2006/TTLT-BTP-BCA ngày 29 tháng 8 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn việc trang bị, quản lý và sử dụng công cụ hỗ trợ của cơ quan thi hành án dân sự;
(viii) Thông tư liên tịch số 01/2007/TTLT-BTP-BNV ngày 29 tháng 3 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn về tổ chức, cán bộ của Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
(ix) Thông tư liên tịch số 09/2008/TTLT-BTP-BNV-BTC ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 86/2007/QĐ-TTg ngày 11 tháng 6 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề đối với thẩm tra viên thi hành án dân sự;
(x) Thông tư liên tịch số 09/2010/TTLT-BTP-BTC-BNV ngày 04 tháng 5 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Quyết định số 74/2009/QĐ-TTg ngày 07 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp;
(xi) Thông tư liên tịch số 11/2010/TTLT-BTP-BNV ngày 17 tháng 6 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, quản lý và sử dụng viên chức đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ngành Tư pháp;
(xii) Thông tư số 05/2014/TT-BTP ngày 07 tháng 02 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính;
(xiii) Thông tư số 19/2014/TT-BTP ngày 15 tháng 9 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về nhập, đăng tải, khai thác dữ liệu thủ tục hành chính trên cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính và quản lý Cơ sở dữ liệu về thủ tục hành chính;
(xiv) Thông tư số 25/2014/TT-BTP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính.
- 03 văn bản bãi bỏ một phần bao gồm:
(i) Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT-BTP-BNG-BCA ngày 01 tháng 3 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn thi hành Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch;
(ii) Thông tư số 07/2014/TT-BTP ngày 24 tháng 02 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn việc đánh giá tác động và rà soát đánh giá thủ tục hành chính;
(iii) Thông tư số 04/2016/TT-BTP ngày 03 tháng 3 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định một số nội dung hoạt động thống kê của Ngành Tư pháp.
Có thể thấy, Thông tư số 01/2018/TT-BTP được ban hành là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định hết hiệu lực với nhiều văn bản không còn được áp dụng trên thực tế, góp phần làm “sạch”, minh bạch hệ thống văn bản QPPL thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp./.
Phòng Kiểm tra khối Nội chính
File đính kèm