Quá trình hình thành, phát triển và kết quả công tác nổi bật của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Sign In

Quá trình hình thành, phát triển và kết quả công tác nổi bật của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỤC KIỂM TRA
VĂN BẢN QPPL
Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt
ra nhiệm vụ quan trọng là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó
cần có cơ chế hậu kiểm để kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất
của các văn bản QPPL. Vì vậy, tại Luật Ban hành văn bản QPPL năm 1996,
Quốc hội đã giao cho Chính phủ chức năng kiểm tra văn bản QPPL của các bộ,
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh. Sau khi Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 được ban
hành, trong đó không tiếp tục quy định chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của Viện kiểm sát nhân dân, trên cơ sở quy định của Quốc hội về tổ chức và
hoạt động của Chính phủ, Chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ
thống nhất quản lý nhà nước về công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL trên cả
nước thông qua việc ban hành Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003
quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư
pháp (sau đó lần lượt được thay thế bằng Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày
22/8/2008; Nghị định số 22/2013/NĐ-CP ngày 13/3/2013 và nay là Nghị định
số 96/2017/NĐ-CP
ngày 16/8/2017).
* Ngày 05/8/2003, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số
336/QĐ-BTP về việc thành lập Cục Kiểm tra văn bản QPPL thuộc Bộ Tư pháp
thực hiện chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thống nhất quản lý về kiểm
tra văn bản QPPL và tổ chức kiểm tra văn bản QPPL thuộc thẩm quyền của
Bộ Tư pháp.
Sau khi được thành lập, Cục Kiểm tra văn bản QPPL đã tham mưu để
Bộ Tư pháp trình Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày
14/11/2003 về kiểm tra và xử lý văn bản QPPL (sau đó được thay thế bằng Nghị
định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 và nay là Nghị định số 34/2016/NĐ-CP
ngày 14/5/2016) tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho hoạt động kiểm tra văn bản QPPL
trong cả nước.
* Năm 2005, Cục Kiểm tra văn bản QPPL nhận chuyển giao nhiệm vụ
hướng dẫn, kiểm tra công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL từ Vụ Pháp
luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp (theo Quyết định số 1215/QĐ-BTP
ngày 02/6/2005 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp). Theo đó, Cục có nhiệm vụ giúp
Bộ trưởng Bộ Tư pháp thống nhất quản lý về kiểm tra văn bản QPPL, tổ chức
kiểm tra văn bản QPPL thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và hướng
dẫn, kiểm tra công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL của các bộ, ngành,
địa phương và các đơn vị thuộc Bộ.
* Năm 2013, sau 10 năm giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp triển khai và quản lý
nhà nước về công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL, trên
cơ sở Pháp lệnh Pháp điển hệ thống QPPL, Pháp lệnh Hợp nhất văn bản QPPL
và Nghị định số 63/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành Pháp lệnh Pháp điển hệ thống QPPL, Cục Kiểm tra văn bản QPPL
tiếp tục được Bộ trưởng giao thêm hai nhiệm vụ mới là quản lý nhà nước về
công tác pháp điển hệ thống QPPL và hợp nhất văn bản QPPL (theo Quyết định
số 2929/QĐ-BTP ngày 27/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).
* Năm 2016, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 1331/QĐ-BTP
ngày 20/6/2016 về việc phê duyệt Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của
Cục Kiểm tra văn bản QPPL với mục tiêu: Xác lập cơ cấu tổ chức, chức năng,
nhiệm vụ của các đơn vị thuộc Cục Kiểm tra văn bản QPPL bảo đảm hợp lý,
phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và những đặc trưng, yêu cầu
nhiệm vụ công tác của Cục; tổ chức và đổi mới hoạt động các mặt công tác của
Cục theo hướng quản lý chuyên sâu theo ngành, lĩnh vực, địa bàn, qua đó góp
phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các mặt công tác thuộc chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của Cục Kiểm tra văn bản QPPL.
Theo Quyết định số 656/QĐ-BTP ngày 06/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư
pháp, Cục Kiểm tra văn bản QPPL có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ
Tư pháp quản lý nhà nước về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá, hợp nhất
văn bản QPPL, pháp điển hệ thống QPPL; thực hiện kiểm tra văn bản QPPL
thuộc trách nhiệm và thẩm quyền kiểm tra của B
ộ trưởng Bộ Tư pháp; tổ chức
thực hiện rà soát, hệ thống hoá, hợp nhất văn bản QPPL, pháp điển hệ thống
QPPL theo quy định của pháp luật.
Có thể nói, trước yêu cầu của Chính phủ và sự tin tưởng của lãnh đạo Bộ,
trải qua 15 năm kể từ ngày thành lập, chức năng, nhiệm vụ của Cục ngày càng
được mở rộng, phát triển và Cục Kiểm tra văn bản QPPL ngày càng khẳng định
được vai trò của mình trong quá trình phát triển của Bộ, Ngành Tư pháp.
Về cơ cấu tổ chức và biên chế: Ngày thành lập Cục có 08 biên chế, bao
gồm một số bộ phận như: Hành chính - tổng hợp; Kiểm tra văn bản. Đến nay,
cùng với sự mở rộng về chức năng, nhiệm vụ, số lượng công chức của đơn vị đã
được nâng lên (hiện là 34 biên chế), trong đó Lãnh đạo Cục gồm có Cục trưởng
và 02 Phó Cục trưởng; cơ cấu tổ chức của Cục gồm 05 đơn vị trực thuộc là:
- Văn phòng;
- Phòng Kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL khối kinh tế;
- Phòng Kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL khối khoa giáo -
văn xã;
- Phòng Kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL khối nội chính;
- Phòng Pháp điển và hợp nhất văn bản QPPL.
Cùng với việc xây dựng, phát triển tổ chức, nhân sự của các đơn vị chuyên
môn, tổ chức Đảng và các tổ chức đoàn thể của Cục cũng luôn được quan tâm
kiện toàn, phát triển, gồm: Chi bộ đảng Cục Kiểm tra văn bản QPPL (thành
lập ngày 17/3/2003, nâng thành Chi bộ đảng cơ sở năm 2012), Công đoàn Cục
(thành lập tháng 5/2004, nâng thành Công đoàn cơ sở năm 2015) và Đoàn thanh
niên Cục (thành lập ngày 01/9/2004), qua đó đã bảo đảm nền tảng chính trị để
xây dựng đơn vị ngày càng vững mạnh.
Với sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ qua
các thời kỳ và sự nỗ lực không ngừng của các thế hệ lãnh đạo, công chức trong
đơn vị, thời gian qua, Cục Kiểm tra văn bản QPPL đã đạt được nhiều thành tích
trong công tác, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần thiết thực
vào việc hoàn thành nhiệm vụ chung của Bộ, Ngành Tư pháp, trong đó nổi bật là:
Về kiểm tra, xử lý văn bản QPPL: Công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL là
công tác có bề dày nhất so với các nhiệm vụ khác của Cục, thời gian qua đã đóng
góp quan trọng vào kết quả thực hiện nhiệm vụ chung của Bộ, Ngành. Công
tác kiểm tra văn bản QPPL luôn được Cục Kiểm tra văn bản QPPL xác định là
mặt công tác trọng tâm. Để triển khai công tác này, Cục đã tích cực tham mưu
hoàn thiện thể chế về kiểm tra, xử lý văn bản. Ngay sau khi thành lập, Cục được
Bộ trưởng Bộ Tư pháp giao chủ trì xây dựng trình Chính phủ ban hành Nghị
định về kiểm tra và xử lý văn bản QPPL (Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày
14/11/2003), đồng thời xây dựng, trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông
tư số 01/2004/TT-BTP ngày 16/6/2004 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị
định số 135/2003/NĐ-CP. Cục cũng đã phối hợp với các đơn vị chuyên môn của
Bộ Tài chính trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
Thông tư liên tịch số 158/2007/TTLT-BTC-BTP ngày 28/12/2007 hướng dẫn về
quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ cho công tác kiểm tra văn bản QPPL. Sau khi
Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 được ban hành, Cục đã chủ trì xây dựng
các nội dung quy định chi tiết về công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL và cùng
với các đơn vị thuộc Bộ có liên quan tham mưu Bộ trưởng trình Chính phủ ban
hành Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản QPPL.
Hằng năm, trên cơ sở các văn bản QPPL do các cơ quan cấp bộ và địa phương
ban hành gửi đến để kiểm tra theo thẩm quyền, kiểm tra theo chuyên đề và từ các
nguồn thông tin do công dân, cơ quan, tổ chức, báo chí phản ánh, Cục Kiểm tra
văn bản QPPL đã tổ chức kiểm tra bình quân khoảng 3.000 văn bản theo thẩm
quyền, phát hiện hằng trăm văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền và văn
bản có sai sót khác. Trên cơ sở thông báo, kết luận của Cục, hầu hết các văn bản
trái pháp luật đều được cơ quan ban hành xem xét, xử lý hoặc có hướng xử lý,
góp phần bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, tính đồng bộ và tính
khả thi của văn bản QPPL. Đối với những văn bản trái pháp luật chưa được cơ
quan ban hành văn bản nhìn nhận nghiêm túc và có biện pháp xử lý kịp thời, Cục
đã chủ động, tích cực tham mưu để Lãnh đạo Bộ chỉ đạo xử lý quyết liệt, triệt để.
Bên cạnh đó, qua việc kiểm tra, hướng dẫn, đôn đốc của Cục, hoạt động
kiểm tra văn bản đã được các bộ, ngành, địa phương quan tâm, chỉ đạo thực
hiện ngày càng bài bản, toàn diện và đi vào thực chất. Các cơ quan kiểm tra văn
bản trên cả nước đã kiểm tra một số lượng lớn văn bản, thông qua đó đã phát
hiện, xử lý kịp thời nhiều văn bản trái pháp luật, ngăn chặn việc áp dụng các
quy định trái pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của tổ chức, cá nhân, đồng thời nâng cao nhận thức của cơ quan ban hành văn
bản về chấp hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành văn bản, được xã
hội quan tâm, đồng tình. Hoạt động kiểm tra văn bản thời gian qua cũng đã từng
bước kết nối với các hoạt động xây dựng, theo dõi thi hành pháp luật, kiểm soát
thủ tục hành chính, tạo sự đồng bộ trong kiến nghị xử lý văn bản sai phạm. Kết
quả công tác kiểm tra văn bản đã khẳng định tính đúng đắn của việc xác lập cơ
chế này trong nội bộ hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, góp phần khẳng
định vị thế của công tác tư pháp trong đời sống chính trị, kinh tế - xã hội của đất
nước. Đặc biệt, thông qua công cụ kiểm tra văn bản QPPL, nhiệm vụ phản ứng
chính sách được toàn Ngành thực hiện kịp thời, nhạy bén và sát với thực tiễn
hơn. Với những nỗ lực, quyết tâm của tập thể lãnh đạo và công chức trong đơn
vị, 15 năm qua công tác kiểm tra, xử lý văn bản đã tạo được dấu ấn trong Ngành
Tư pháp và công luận với những thành tích tiêu biểu như: Phát hiện, kiến nghị
xử lý 46 văn bản về ưu đãi, khuyến khích đầu tư (năm 2005); 91 văn bản về xử
phạt vi phạm hành chính (năm 2006); 20 văn bản quy định không phù hợp về
điều kiện kinh doanh (năm 2015); 14 văn bản về nông nghiệp và phát triển nông
thôn (2016); 06 văn bản về lao động, xã hội; 18 văn bản về giao thông vận tải
(năm 2017)... Hằng năm, số lượng và chất lượng kiểm tra, xử lý văn bản theo
thẩm quyền của Bộ Tư pháp cũng ngày càng được nâng lên, đặc biệt từ 2015-
2017 tăng lên một cách đáng kể, cụ thể: năm 2017, số văn bản đã kiểm tra theo
thẩm quyền tăng 98% so với năm 2015, tăng 69% so với năm 2016; số văn bản
đã kết luận tăng gần 70% so với năm 2015, tăng 20,5% so với năm 2016; tỷ lệ
số văn bản trái pháp luật đã được xử lý trên tổng số văn bản đã kết luận tăng từ
29% (năm 2015, 2016) lên đến 47% (năm 2017)… Đặc biệt, trong năm 2017,
với quyết tâm “xóa nợ đọng” trong xử lý văn bản trái pháp luật, Cục đã tổ chức
rà soát, trình Bộ trưởng báo cáo Thủ tướng xem xét, xử lý đối với 19 văn bản
trái pháp luật của các bộ, địa phương tồn đọng chưa được xử lý từ trước năm
2017. Đến nay các văn bản này đã được xử lý triệt để.
Về rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL: Công tác rà soát, hệ thống hóa
văn bản QPPL đã được Cục Kiểm tra văn bản QPPL triển khai từng bước
(từ khi được giao nhiệm vụ năm 2005) và ngày càng nề nếp, bài bản. Năm
2013, Cục đã tham mưu để Bộ trưởng trình Chính phủ ban hành Nghị định
số 16/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ về rà soát, hệ thống hóa
văn bản QPPL; trình Bộ trưởng ban hành Thông tư số 09/2013/TT-BTP ngày
15/6/2013 quy định chi tiết thi hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP. Theo đó, lần
đầu tiên công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL có văn bản điều chỉnh
riêng, tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đầy đủ cho việc triển khai hiệu quả công tác
này trên thực tế. Hiện nay, hoạt động rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL được
điều chỉnh chủ yếu bởi Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016.
Thực hiện nhiệm vụ được giao, Cục đã làm tốt vai trò giúp Bộ trưởng quản
lý nhà nước về công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL như: Tham mưu
xây dựng và hoàn thiện thể chế cho công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản;
hướng dẫn, đôn đốc và kiểm tra tổ chức pháp chế các bộ, ngành và cơ quan tư
pháp địa phương thực hiện công tác rà soát, hệ thống hoá văn bản; làm đầu mối
tổ chức thực hiện việc rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL thuộc lĩnh vực quản
lý của Bộ; thực hiện việc rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL thuộc lĩnh vực
kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL.
Công tác rà soát thường xuyên đối với các văn bản QPPL thuộc trách
nhiệm rà soát của Bộ Tư pháp được Cục chú trọng thực hiện, bảo đảm kịp thời
và hiệu quả. Trên cơ sở kết quả rà soát thường xuyên, hàng năm, Cục đã tham
mưu Bộ trưởng ban hành các Quyết định công bố danh mục văn bản QPPL hết
hiệu lực toàn bộ hoặc một phần. Cụ thể, từ năm 2005 đến hết tháng 5/2018,
Cục đã tham mưu, trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký, ban hành 13 Quyết định
công bố Danh mục văn bản, quy định pháp luật do Bộ Tư pháp ban hành và
liên tịch ban hành hết hiệu lực thi hành và Danh mục văn bản QPPL hết hiệu
lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước
của Bộ Tư pháp (gồm 423 văn bản). Hoạt động này đã góp phần nâng cao tính
minh bạch, dễ tiếp cận văn bản của Bộ Tư pháp nói riêng và cũng là một yếu
tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác soạn thảo, ban hành
cũng như kiểm tra, xử lý và theo dõi thi hành văn bản QPPL, hạn chế tình trạng
chồng chéo, mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật.
Bên cạnh đó, Cục còn giúp Lãnh đạo Bộ chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các
bộ, ngành liên quan thực hiện rà soát văn bản QPPL theo nhiều chuyên đề, lĩnh
vực theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tiêu biểu như: Tổ chức triển khai rà
soát, lập danh mục đề xuất văn bản QPPL cần bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban
hành mới phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 (với tổng số 102.306
văn bản QPPL được rà soát; 282 văn bản QPPL được kiến nghị sửa đổi, bổ
sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới); tổ chức rà soát, xác định và công bố
các văn bản hết hiệu lực theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014; tổ chức rà
soát, lập danh mục đề xuất văn bản QPPL do cơ quan nhà nước ở Trung ương
ban hành cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới bảo đảm phù
hợp với Điều 3 của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016
Trong công tác hệ thống hóa văn bản QPPL, trên cơ sở kết quả hệ thống hóa
kỳ đầu tiên thống nhất trong cả nước (31/12/2013), hằng năm, Cục đã tham mưu
Bộ trưởng chỉ đạo, thực hiện rà soát, cập nhật kết quả hệ thống hóa văn bản thuộc
trách nhiệm của Bộ Tư pháp để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước. Năm 2018,
thực hiện kỳ hệ thống hóa văn bản thứ hai thống nhất trong cả nước (2014 - 2018),
Cục đã tham mưu Bộ trưởng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch để
triển khai thực hiện (Quyết định số 126/QĐ-TTg ngày 25/01/2018). Trên cơ sở
đó, Cục đã chủ trì tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch; trình Bộ trưởng ký ban
hành Kế hoạch triển khai thực hiện hệ thống hóa văn bản QPPL kỳ 2014 - 2018
tại Bộ Tư pháp; tổ chức tập huấn chuyên sâu về kỹ năng rà soát, hệ thống hóa văn
bản phục vụ công tác hệ thống hóa văn bản cho các bộ, ngành, địa phương; tăng
cường đôn đốc, hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện Kế
hoạch hệ thống hóa văn bản. Theo đó, hiện nay, các bộ, ngành, địa phương đang
tập trung nguồn lực để triển khai hiệu quả nhiệm vụ này.
Thông qua kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản, thời gian qua, các bộ,
ngành, địa phương đã phát hiện và kịp thời xử lý những văn bản thuộc lĩnh vực
quản lý nhà nước của cơ quan mình có quy định chồng chéo, mâu thuẫn, không
còn phù hợp, góp phần bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch
của hệ thống pháp luật, giúp công tác xây dựng, áp dụng, thi hành pháp luật
được hiệu quả. Điều đó không chỉ thể hiện sự nhận thức đầy đủ về vai trò và sự
chủ động trong công tác quản lý nhà nước của Cục Kiểm tra văn bản QPPL mà
còn thể hiện sự nỗ lực, tích cực của tập thể lãnh đạo và công chức Cục trong
việc triển khai hiệu quả công tác này.
Về pháp điển hệ thống QPPL và hợp nhất văn bản QPPL: Với 05 năm triển
khai thực hiện, công tác pháp điển và hợp nhất văn bản QPPL đã đạt được những
kết quả nổi bật, được Lãnh đạo Bộ Tư pháp đánh giá cao. Để triển khai thực hiện
Pháp lệnh Pháp điển hệ thống QPPL, Pháp lệnh Hợp nhất văn bản QPPL và Nghị
định số 63/2013/NĐ-CP, năm 2014, Cục Kiểm tra văn bản QPPL đã chủ trì xây
dựng, tham mưu Bộ trưởng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành và trình Bộ
trưởng ký ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền về công tác pháp điển và hợp
nhất. Cho đến nay, về cơ bản các văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết cũng như
văn bản chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về công tác
pháp điển hệ thống QPPL và hợp nhất văn bản QPPL đã đầy đủ, bảo đảm các
điều kiện pháp lý cần thiết cho việc xây dựng thành công Bộ pháp điển và việc
hợp nhất các văn bản sửa đổi, bổ sung của các bộ, ngành.
Nhận thức được vai trò và ý nghĩa của việc xây dựng Bộ pháp điển, ngay từ
khi được giao nhiệm vụ, Cục Kiểm tra văn bản QPPL đã rất chủ động, tích cực
triển khai. Trên tinh thần thực hiện pháp điển sớm các đề mục có hệ thống văn
bản ổn định, liên quan đến quyền lợi của cá nhân, doanh nghiệp, với sự nỗ lực
của Cục nói riêng và các bộ, ngành nói chung, đến nay các bộ, ngành đã thực
hiện xong và trình Chính phủ thông qua 67/265 đề mục (vượt tiến độ 300% so
với lộ trình xây dựng Bộ pháp điển mà Thủ tướng Chính phủ giao) và đưa vào
khai thác, sử dụng trên mạng internet. Qua việc pháp điển, Bộ Tư pháp đã cùng
với các bộ, ngành rà soát, làm “sạch” được gần 3 nghìn văn bản trên tổng số
khoảng gần 10 nghìn văn bản QPPL của Trung ương, góp phần nâng cao tính
thống nhất, đồng bộ, tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật, giúp các
cá nhân, tổ chức dễ dàng, thuận tiện trong tra cứu, tìm kiếm các quy định pháp
luật đang còn hiệu lực. Bên cạnh đó, Cục Kiểm tra văn bản QPPL đã giúp Bộ
trưởng chủ trì thực hiện nhiều hoạt động nhằm sớm đưa Bộ pháp điển vào khai
thác, sử dụng. Với sự nỗ lực của tập thể lãnh đạo và công chức của Cục, Bộ pháp
điển đã bước đầu được xã hội đón nhận tích cực, khai thác và sử dụng, đến nay
có hơn 1 triệu lượt truy cập vào Bộ pháp điển điện tử (trung bình mỗi ngày có
gần 3 nghìn lượt truy cập). Với kết quả nêu trên, công tác xây dựng Bộ pháp điển
đã được bình chọn là một trong 10 sự kiện nổi bật năm 2017 của Ngành Tư pháp.
Đối với công tác hợp nhất văn bản QPPL, sau gần 05 năm triển khai thực
hiện, Cục Kiểm tra văn bản QPPL đã chủ động, tích cực trong việc giúp Bộ
trưởng hướng dẫn, đôn đốc các bộ, ngành thực hiện hợp nhất các văn bản sửa
đổi, bổ sung thuộc trách nhiệm hợp nhất. Theo đó, công tác hợp nhất văn bản
QPPL tại các bộ, ngành ngày càng đi vào nề nếp, việc thực hiện hợp nhất văn
bản theo đúng trình tự, thủ tục, nội dung, kỹ thuật và thực hiện đăng tải trên Công
báo và Trang thông tin điện tử theo quy định. Về cơ bản, việc tổ chức, chỉ đạo
triển khai thi hành Pháp lệnh hợp nhất văn bản QPPL đã được thực hiện khá
nghiêm túc, có sự phối hợp tốt giữa các đơn vị trực thuộc của cơ quan có thẩm
quyền thực hiện hợp nhất văn bản.
Bên cạnh đó, nhiều mặt công tác khác phục vụ cho hoạt động chuyên môn
của đơn vị cũng được quan tâm và triển khai tích cực, hiệu quả, như: Công tác
xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL;
ứng dụng công nghệ thông tin; hợp tác quốc tế; tổ chức cán bộ; thi đua khen
thưởng… Các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội thuộc Cục như Chi bộ, Công
đoàn, Đoàn Thanh niên, Tổ Nữ công cũng ngày càng được kiện toàn và nêu cao
trách nhiệm, phát huy vai trò và góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính
trị mà Cục được giao.
Với những kết quả công tác đạt được, thời gian qua, Cục Kiểm tra văn bản
QPPL đã được Thủ tướng Chính phủ và lãnh đạo Bộ Tư pháp trao tặng nhiều danh
hiệu thi đua, hình thức khen thưởng cao quý: Bằng khen của Thủ tướng Chính
phủ (năm 2012); “Cờ Thi đua Ngành Tư pháp” (năm 2015 và năm 2017); nhiều
năm liên tục được tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tư pháp; hằng năm Cục đều
được công nhận danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc”. Nhân dịp kỷ niệm 15 năm
ngày thành lập đơn vị, Cục Kiểm tra văn bản QPPL đã vinh dự được Chủ tịch
nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba. Các hình thức khen thưởng
nêu trên thể hiện sự ghi nhận, đánh giá cao của Đảng, Nhà nước, Bộ, Ngành Tư
pháp đối với những đóng góp của Cục Kiểm tra văn bản QPPL trong 15 năm
qua, là nguồn động viên, khích lệ to lớn để công chức Cục Kiểm tra văn bản
QPPL tiếp tục nỗ lực hơn nữa, xây dựng tập thể đơn vị vững mạnh, hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ được giao./.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Chung nhan Tin Nhiem Mang