Công tác kiểm tra, rà soát văn bản QPPL tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực
Sign In

Công tác kiểm tra, rà soát văn bản QPPL tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực

Ngày 16/5/2023, Bộ Tư pháp đã có Báo cáo số 132/BC-BTP báo cáo Thủ tướng Chính phủ về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2022 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2023. Trên cơ sở Báo cáo của Bộ Tư pháp, ngày 24/5/2023, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 3683/VPCP-PL thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang về việc thực hiện các công tác nêu trên

     Về kết quả đã đạt được trong năm 2022, theo Báo cáo của Bộ Tư pháp, công tác kiểm tra, rà soát văn bản QPPL của cả nước tiếp tục được tăng cường thực hiện, bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ và sự hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc của Bộ Tư pháp để đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi hiệu lực, hiệu quả pháp luật. Nhìn chung, các cơ quan đã quan tâm chỉ đạo, bố trí nguồn lực, xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, rà soát văn bản theo quy định; chú trọng công tác kiểm tra, rà soát văn bản theo chuyên đề, lĩnh vực, địa bàn để kịp thời phát hiện, tự xử lý và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập, không còn phù hợp. Việc xử lý văn bản có quy định trái pháp luật sau khi tự kiểm tra phát hiện hoặc do cơ quan có thẩm quyền kiểm tra phát hiện, kết luận đã được cơ quan ban hành thực hiện nghiêm túc, hiệu quả hơn. Kết quả công tác kiểm tra, rà soát văn bản tại các cơ quan cấp bộ và địa phương đã góp phần tích cực nâng cao chất lượng, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch, khả thi của hệ thống pháp luật, tạo cơ sở nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thi hành pháp luật, hạn chế các yếu tố tác động tiêu cực, tạo môi trường pháp lý thuận lợi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đời sống của Nhân dân, nhất là về hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Cụ thể:
     Trong công tác kiểm tra văn bản QPPL, các bộ, cơ quan ngang bộ (gồm cả Bộ Tư pháp) và địa phương đã thực hiện kiểm tra theo thẩm quyền đối với 12.764 văn bản QPPL (giảm 469 văn bản so với năm 2021), cụ thể: Các bộ, cơ quan ngang bộ kiểm tra 8.694 văn bản (trong đó có 6.559 văn bản ban hành trong năm 2022); các địa phương kiểm tra 4.070 văn bản (gồm 2.889 văn bản cấp huyện, 1.181 văn bản cấp xã; trong đó có 3.197 văn bản ban hành trong năm 2022). Qua công tác kiểm tra, cả nước đã kết luận, kiến nghị xử lý đối với 477 văn bản, gồm 376 văn bản QPPL và 101 văn bản không phải là văn bản QPPL nhưng có chứa QPPL.
     Để kịp thời phục vụ việc giám sát chuyên đề của Quốc hội Khóa XV trong năm 2023, trên cơ sở Chương trình giám sát năm 2023 tại Nghị quyết số 51/2022/QH15 và Nghị quyết số 52/2022/QH15 của Quốc hội, Bộ Tư pháp đã ban hành và tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch kiểm tra chuyên đề về các văn bản liên quan đến: (1) Việc huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực phục vụ công tác phòng, chống dịch COVID-19; việc thực hiện chính sách, pháp luật về y tế cơ sở, y tế dự phòng; (2) Việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về các Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025, giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Việc kiểm tra theo 02 chuyên đề nêu trên được thực hiện từ tháng 8/2022 đến tháng 7/2023, bảo đảm phù hợp với tiến độ tại Chương trình giám sát năm 2023 của Quốc hội, qua đó gắn kết công tác kiểm tra văn bản của Chính phủ với công tác giám sát của Quốc hội, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật.
     Trong công tác rà soát văn bản QPPL, cả nước đã thực hiện rà soát 29.118 văn bản (trong đó tại các bộ, cơ quan ngang bộ: 6.090/6.095 văn bản, đạt 99.91%; tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 23.028/23.053 văn bản, đạt 99.89%). Qua đó, đã xử lý 4.833 văn bản (trong đó tại các bộ, cơ quan ngang bộ: 440/563 văn bản, chiếm 78.15% tổng số văn bản kiến nghị xử lý; tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 4.393/4.752 văn bản, chiếm 92.44% tổng số văn bản kiến nghị xử lý)
     Trên cơ sở kết quả rà soát văn bản QPPL thường xuyên, vào tháng 01 năm 2023 các cơ quan cấp bộ và UBND cấp tỉnh đã thực hiện công bố văn bản hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần năm 2022 theo quy định tại Điều 157 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.
     Thực hiện nhiệm vụ theo Nghị quyết số 23/NQ-CP ngày 08/4/2018 phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3 năm 2018, trong năm 2022, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành rà soát, xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định, Quyết định bãi bỏ toàn bộ 45 văn bản QPPL do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành và bãi bỏ một phần 02 văn bản QPPL do Chính phủ ban hành không còn được áp dụng trên thực tế nhưng chưa có căn cứ chấm dứt hiệu lực.
     Thực hiện công tác rà soát văn bản QPPL theo nhiệm vụ, kế hoạch của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản QPPL và đề nghị, chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền, trong năm 2022, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan có liên quan tham mưu xây dựng Kế hoạch và tổ chức thực hiện, hoàn thành có chất lượng, hiệu quả các nhiệm vụ:  (i) Theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo các bộ, cơ quan liên quan thực hiện rà soát vướng mắc, bất cập của hệ thống pháp luật và xử lý kết quả rà soát văn bản QPPL do Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản QPPL và các bộ, ngành đã thực hiện trong các năm 2020, 2021 theo yêu cầu, chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; (ii) Tổ chức rà soát độc lập, chuyên sâu theo một số nhóm văn bản QPPL còn hiệu lực do cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành, gồm: Quy định pháp luật về nhà ở, kinh doanh bất động sản, quy hoạch đô thị, đấu giá tài sản; (iii) Rà soát, cho ý kiến độc lập đối với một số nội dung quy định cụ thể liên quan đến các luật, bộ luật theo đề nghị của Đảng đoàn Quốc hội, gồm: Bộ luật Dân sự, Luật Dầu khí, Luật Thủy lợi; Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; Luật Phí và Lệ phí; Luật Ngân sách nhà nước; Luật Điện lực; Luật Hợp tác xã, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP); Luật Doanh nghiệp; Luật Quy hoạch.
     Ngoài ra, Bộ Tư pháp và các bộ ngành đã thực hiện rà soát, xây dựng Báo cáo số 1327/BC-BCSĐCP ngày 15/11/2022 của Ban cán sự đảng Chính phủ gửi Đảng đoàn Quốc hội về rà soát, khắc phục những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến đấu thầu, đấu giá, quản lý, sử dụng đất đai, tài sản công, tài chính, chứng khoán; rà soát, xây dựng Báo cáo số 09/BC-BTP ngày 06/01/2023 gửi Thủ tướng Chính phủ về kết quả rà soát thông tư do các bộ, cơ quan ngang bộ ban hành đang còn hiệu lực để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, giảm các thủ tục yêu cầu không cần thiết, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tổ chức, danh nghiệp và đời sống Nhân dân.
     Trong công tác hệ thống hóa văn bản QPPL, để triển khai thực hiện công tác hệ thống hóa văn bản QPPL kỳ 2019-2023, Bộ Tư pháp đã ban hành văn bản hướng dẫn các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc chuẩn bị các điều kiện bảo đảm để thực hiện hệ thống hóa văn bản QPPL kỳ 2019-2023; xây dựng, gửi các bộ, cơ quan, địa phương tài liệu hướng dẫn về việc xây dựng kế hoạch và thực hiện hệ thống hóa văn bản QPPL kỳ 2019-2023 để làm cơ sở cho việc triển khai thực hiện. Hiện nay các bộ, ngành, địa phương đang tích cực thực hiện công tác hệ thống hóa văn bản QPPL kỳ 2019-2023 theo đúng quy định.
     Chế độ lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí cho công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL đã được Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND các địa phương nghiên cứu sửa đổi, thay thế bằng Thông tư mới của Bộ Tài chính (Thông tư số 09/2023/TT-BTC ngày 08/02/2023) để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và tình hình thực tế, tạo điều kiện đảm bảo tốt hơn nguồn lực tổ chức thực hiện các công tác nêu trên.       
     Về phương hướng, nhiệm vụ năm 2023,  căn cứ thực tiễn công tác và định hướng, yêu cầu của Đảng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật để phục vụ sự phát triển của đất nước, Bộ Tư pháp xác định phương hướng, nhiệm vụ về công tác kiểm tra, rà soát văn bản QPPL của các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong năm 2023  như sau:
     1. Quán triệt định hướng, tinh thần, yêu cầu về xây dựng, hoàn thiện, tổ chức thi hành pháp luật, “Tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu, kiên quyết chống tiêu cực, "lợi ích nhóm" trong công tác xây dựng pháp luật” theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu BCH Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”. Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật; Chỉ thị số 43/CT-TTg ngày 11/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật; kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại Hội nghị của Chính phủ về công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế (theo Thông báo số 273/TB-VPCP ngày 22/10/2021 của Văn phòng Chính phủ); Công văn số 301/TTg-PL ngày 06/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ về công tác xây dựng thể chế, pháp luật.
     Thực hiện đổi mới mạnh mẽ, có các giải pháp hiệu quả hơn trong lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng, ban hành, kiểm tra, rà soát văn bản QPPL theo hướng thực chất hơn, bám sát và phù hợp với thực tiễn; thường xuyên gắn kết chặt chẽ hoạt động kiểm tra, rà soát văn bản QPPL với xây dựng và theo dõi thi hành pháp luật để kiểm soát, nâng cao chất lượng văn bản QPPL đáp ứng hiệu quả yêu cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, thực hiện nghiêm túc kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra, rà soát, xử lý văn bản QPPL để đảm bảo tính pháp lý, thống nhất, đồng bộ, phù hợp, khả thi của văn bản, tránh mâu thuẫn, chồng chéo, cài cắm lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong văn bản. Tiếp tục quan tâm kiện toàn, đầu tư, bố trí nguồn nhân lực, nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ và các điều kiện đảm bảo khác tương xứng với tầm quan trọng của các công tác nêu trên để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
     2. Tăng cường thực hiện có chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, rà soát văn bản QPPL theo đúng thẩm quyền, trách nhiệm đã được quy định để đảm bảo việc xây dựng, ban hành văn bản phải có cơ sở pháp lý, đúng thẩm quyền, nội dung; kịp thời phát hiện, tự xử lý hoặc kiến nghị xử lý văn bản có quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp thực tiễn (nhất là các văn bản liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, quyền và lợi ích chính đáng của người dân, doanh nghiệp; các biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh; biện pháp quản lý có tính chất đặc thù của địa phương).
     Chú trọng kiểm tra, rà soát văn bản QPPL theo lĩnh vực, địa bàn gắn với yêu cầu, giải pháp của Chính phủ về chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2023 và yêu cầu quản lý ngành, lĩnh vực. Tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật để sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ thực hiện các thủ tục hành chính trên môi trường điện tử và phát triển kinh tế - xã hội (theo Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030).
     3. Phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan trong công tác kiểm tra, kết luận, xử lý văn bản QPPL. Chỉ đạo, đôn đốc xử lý dứt điểm các văn bản có quy định trái pháp luật đã phát hiện, kết luận qua công tác tự kiểm tra, kiểm tra theo thẩm quyền và các văn bản có quy định trái pháp luật do mình ban hành đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra kết luận. Các bộ, cơ quan ngang bộ tăng cường kiểm tra văn bản theo thẩm quyền, thông tin đầy đủ, kịp thời đến Bộ Tư pháp về kết quả kiểm tra văn bản thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan mình.
     4. Tổ chức triển khai thực hiện đúng quy định, có chất lượng công tác hệ thống hóa văn bản QPPL thống nhất trong cả nước kỳ 2019 - 2023 để bảo đảm tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận của hệ thống pháp luật.
     5. Rà soát, cập nhật đầy đủ, kịp thời, chính xác văn bản QPPL thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của cơ quan, địa phương mình trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật theo quy định tại Nghị định số 52/2015/NĐ-CP ngày 28/5/2015; thực hiện nghiêm túc quy định về chế độ báo cáo, thống kê kết quả kiểm tra, rà soát văn bản QPPL và việc gửi danh mục, tình hình xử lý văn bản trái pháp luật đã phát hiện qua công tác kiểm tra đến Bộ Tư pháp để tổng hợp, theo dõi, báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo đúng quy định tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016.
     6. Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan ngang bộ tập trung thực hiện các nhiệm vụ:
     - Tham mưu, phối hợp tổ chức triển khai các nhiệm vụ của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản QPPL để rà soát, xử lý những quy định bất cập, không còn phù hợp, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong văn bản QPPL do các cơ quan trung ương ban hành. Chú trọng phát huy vai trò của Tổ công tác đối với những vụ việc cụ thể, phức tạp được dư luận xã hội quan tâm và có liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của nhiều bộ, ngành. Tập trung thực hiện việc nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của mình trên cơ sở kết quả rà soát văn bản QPPL trong thời gian qua, đặc biệt là các văn bản đã có trong kế hoạch, chương trình xây dựng văn bản năm 2023, tạo cơ sở thuận lợi cho việc ban hành văn bản QPPL của địa phương.
     - Tiếp tục nghiên cứu, rà soát để kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc nghiên cứu, đề xuất xây dựng mới các văn bản QPPL được giao tại Quyết định số 2114/QĐ-TTg ngày 16/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 19-KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị và Đề án định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.
     Tổ chức nghiên cứu, đề xuất, ban hành kế hoạch để sửa đổi, bổ sung,ban hành mới các văn bản chưa có trong chương trình, kế hoạch xây dựng văn bản của cơ quan có thẩm quyền; tham mưu, tổ chức thực hiện các kiến nghị của Đảng đoàn Quốc hội tại Báo cáo số 282-BC/ĐĐQH15 ngày 21/10/2021 (được tổng hợp tại Phụ lục IV kèm theo Báo cáo số 93/BC-TCT ngày 29/3/2023 của Tổ công tác gửi Thủ tướng Chính phủ về kết quả hoạt động năm 2022).
     - Khẩn trương chỉ đạo xử lý nhanh chóng, chính xác các nội dung vướng mắc, bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn đã được phát hiện trên cơ sở kết quả rà soát các thông tư đang còn hiệu lực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ, ngành để tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tổ chức, doanh nghiệp và đời sống Nhân dân.
     - Tiếp tục tăng cường công tác rà soát thường xuyên theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; chủ động lấy ý kiến và nghiên cứu tiếp thu các kiến nghị của địa phương phản ánh về các vướng mắc, bất cập, những nội dung không còn phù hợp với thực tiễn trong các thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ, ngành để kịp thời sửa đổi, bổ sung; đồng thời tập trung rà soát và xử lý, tham mưu xử lý kết quả rà soát để thực hiện có chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ hệ thống văn bản kỳ 2019-2023, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm của các bộ, ngành trong năm 2023./.
Hồ Hoàng Hà
Chung nhan Tin Nhiem Mang