Vừa
qua, Thủ tướng Chính phủ có thông điệp nhân dịp năm mới. Trong đó có nhấn mạnh
việc tập trung, nỗ lực xây dựng nhà nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật, xây
dựng kỷ luật kỷ cương nhà nước; đề cao trách nhiệm của Chính phủ trong việc đảm
bảo chất lượng xây dựng VBQPPL. Xin ông cho biết quan điểm của mình về thông
điệp của Thủ tướng liên quan đến nội dung nêu trên?
TS.Lê
Hồng Sơn:
Tôi rất mừng khi tiếp nhận thông điệp này. Đây là một dấu ấn cực kỳ quan trọng.
Người đứng đầu Chính phủ đã trực tiếp khẳng định yêu cầu nỗ lực xây dựng nhà
nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật. Đặc biệt Thủ tướng yêu cầu bảo đảm chất
lượng xây dựng văn bản QPPL. Tôi cho rằng, văn bản QPPL có vị trí đặc biệt, có
thể nói là hàng đầu trong hệ thống các văn bản quản lý nhà nước. Chất lượng văn
bản QPPL có bảo đảm thì mới làm cơ sở, chỗ dựa, công cụ có hiệu quả cho quản lý
nhà nước. Thực tế, trong rất nhiều năm qua đã chỉ ra một điều là văn bản QPPL
được ban hành rất nhiều, nhưng chất lượng của nhiều văn bản chưa cao. Cá biệt
có khiếm khuyết, thiếu sót nghiêm trọng, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng, hiệu quả quản lý nhà nước, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân mà còn, nếu chú ý một chút sẽ thấy trong thời gian qua, trên thực tế,
đã tạo những phản ứng, hiệu ứng không tốt trong xã hội. Đó là tâm lý phản biện,
thiếu sự tin tưởng đối với quy định của pháp luật trong một số bộ phận nhân dân.
Thậm chí làm xói mòn, mất lòng tin của xã hội đối với bộ máy quản lý. Thủ tướng
khẳng định bảo đảm chất lượng văn bản QPPL đòi hỏi phải có một loạt các giải
pháp đi theo để thực hiện yêu cầu này.
Theo
ông, có mối quan hệ thế nào giữa xây dựng nhà nước pháp quyền với việc bảo đảm
chất lượng của văn bản QPPL?
TS.Lê
Hồng Sơn:
Chúng ta đều biết xây dựng nhà nước pháp quyền đặt ra nhiều yêu cầu, nhiều nội
dung, nhiều mục tiêu, được triển khai một cách đồng bộ, quyết liệt và phải có
lộ trình. Điểm đáng chú ý là không thể xây dựng nhà nước pháp quyền với một hệ
thống văn bản QPPL không có chất lượng, có nhiều tồn tại, hạn chế. Đối với nhà
nước pháp quyền, một trong những yêu cầu đầu tiên là phải có một hệ thống pháp
luật đồng bộ, thống nhất, sát thực, có hiệu lực, hiệu quả. Hệ thống văn bản
QPPL vừa là sản phẩm, vừa là công cụ của nhà nước pháp quyền. Hệ thống văn bản
QPPL ở nước ta do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ trung ương đến địa
phương ban hành và được hoàn thiện, củng cố suốt mấy chục năm qua. Chính hệ
thống văn bản QPPL là công cụ để nhà nước ta thực hiện việc quản lý nhà nước,
quản lý xã hội. Cao hơn nữa, đây là công cụ để nhân dân thực hiện quyền làm
chủ, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Phải thừa nhận, thời gian
vừa qua, vẫn còn hiện tượng văn bản QPPL được ban hành không bảo đảm tính hợp
hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ cũng như tính khả thi. Nhà nước pháp
quyền không cho phép tồn tại tình trạng này. Nhà nước pháp quyền sẽ tạo điều
kiện xây dựng một hệ thống pháp luật tốt. Ngược lại, hệ thống pháp luật tốt góp
phần bảo đảm xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền
Công
tác kiểm tra văn bản có vị trí thế nào trong vấn đề bảo đảm chất lượng của hệ
thống pháp luật?
TS.Lê
Hồng Sơn:
Cách đây hơn 10 năm, trong dịp sửa đổi Hiến pháp 1992, nhân việc Viện Kiểm sát
không còn đảm nhiệm chức năng kiểm sát chung, bác Nguyễn Đình Lộc, Bộ trưởng Tư
pháp lúc đó có giao cho tôi nghiên cứu cơ chế hậu kiểm văn bản QPPL trong các
cơ quan hành chính nhà nước. Lúc đó, tôi thấy ngay là mấy chục năm qua, từ lúc
thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến nay, cơ chế kiểm tra văn
bản trong nội bộ cơ quan hành chính nhà nước không được triển khai một cách bài
bản, thiếu bộ máy, thiếu thủ tục, quy trình để thực hiện. Mặc dù Hiến pháp, các
luật về tổ chức bộ máy nhà nước có giao thẩm quyền, trách nhiệm cho cơ quan cấp
trên kiểm tra, xử lý, đình chỉ, hủy bỏ, bãi bỏ văn bản của cơ quan cấp dưới,
tuy vậy, không có bộ máy, nhân sự chuyên trách để tham mưu đề xuất, thành ra việc
này không được thực thi một cách bài bản, trở thành thẩm quyền "treo",
không được thực hiện trong thực tế. Văn bản sai trái có nhiều, nhưng hầu như
không được xử lý thấu đáo.
Để khắc phục thiếu sót này, chúng tôi
đã đề xuất và được Quốc hội, Chính phủ chấp thuận xác lập cơ chế "hậu kiểm"
văn bản QPPL trong các cơ quan hành chính nhà nước. Về bản chất, đây là cơ chế "hậu
kiểm" mang tính chất nội bộ trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước
các cấp. Chúng tôi đã đề xuất xây dựng một hệ thống tổ chức để đảm nhiệm công
việc này đó là Cục Kiểm tra văn bản QPPL thuộc Bộ Tư pháp, các tổ chức pháp chế
Bộ, ngành và cơ quan tư pháp địa phương. Chức năng chính của các cơ quan này là
thực hiện theo thẩm quyền việc "chấm" từng văn bản QPPL được ban
hành. Phát hiện nội dung sai trái đồng thời đề xuất cơ chế xử lý theo quy định
của Hiến pháp và luật.
Mục đích của hoạt động này chính là để
phát hiện, loại bỏ những nội dung sai trái của văn bản QPPL nhằm bảo đảm cho
một hệ thống pháp luật tinh sạch, hiệu lực, hiệu quả. Cùng với cơ chế lấy ý
kiến của các cơ quan, tổ chức, các thành phần khác nhau trong xã hội, cơ chế
thẩm định, thẩm tra của các cơ quan có thẩm quyền giúp cho việc ban hành văn
bản đạt chất lượng thì cơ chế kiểm tra văn bản giữ vai trò như người "gác
gôn" sau cùng, ngay sau khi văn bản QPPL được ban hành. Người ta gọi cơ
chế kiểm tra văn bản là cơ chế "hậu kiểm" là hoàn toàn chính xác.
Người ta hay ví việc này như "đãi
gạo nhặt sạn", hoặc như "dọn vườn" cùng với các nghệ danh trước
đây như ông Sơn hương ước, ông Sơn văn bản. Tôi cũng được người ta phong thêm
một nghệ danh là "ông Sơn kiểm tra văn bản", "ông Sơn tuýt
còi". Nhiều khi cũng thấy vui vui. Được dư luận, người đời ghi nhận, khẳng
định là một điều rất đáng quý. Mình phải cố gắng thôi, mặc dù phải chịu nhiều
áp lực, nhiều sức ép, nhiều tác động. Lắm lúc băn khoăn, trăn trở, day dứt.
Cũng nhiều lúc được anh em nhắc nhở phải thận trọng, cảnh giác. Tôi nghĩ, là
cái "nghiệp" rồi. Đã mang "nghiệp" vào thân thì phải cố
gắng, không e ngại, né tránh.
Sau 10 năm triển khai công tác kiểm tra văn
bản QPPL, đề nghị ông cho biết thực trạng ban hành văn bản QPPL hiện nay như
thế nào?
TS.Lê
Hồng Sơn:
Phải nói thế này, từ góc nhìn, nghiệp vụ của chúng tôi có thể thấy rất rõ những
hạn chế, thiếu sót, bất cập của hệ thống pháp luật Việt Nam. Bức tranh pháp
luật của ta, "mảng sáng" là cơ bản. Nhưng vẫn còn những "mảng
tối", những văn bản có nội dung sai trái cần phải xử lý hủy bỏ, bãi bỏ. Và
kể cả những mảng "nhờ nhờ" không ra "sáng" cũng như không
ra "tối". Tôi muốn nói tới những văn bản vô thưởng, vô phạt, thiếu
tính khả thi, không giúp ích gì cho đời sống xã hội, cho công tác quản lý, ban
hành rồi để đấy không ai thèm ngó ngàng, đếm xỉa gì đến. Số liệu về kết quả
công tác kiểm tra văn bản QPPL trong cả nước đã chỉ rõ những điều này.
Sau 10 năm, trên cả nước đã thực hiện
kiểm tra được hơn 3,6 triệu văn bản, phát hiện hơn 90 nghìn văn bản có dấu hiệu
sai phạm và đã được xử lý ở các mức độ khác nhau. Số liệu này báo chí đã đưa và
công luận đã biết. Đáng chú ý trong số hơn 90 nghìn văn bản này, có khoảng gần
10 nghìn văn bản QPPL có dấu hiệu sai phạm về nội dung cần phải xử lý đình chỉ
thi hành, hủy bỏ, bãi bỏ. Cứ thử hình dung, nếu không có cơ chế hậu kiểm trong
10 năm qua và cứ để hàng chục nghìn văn bản sai trái này trôi nổi, "phát
tác" trong xã hội thì hậu quả sẽ thế nào"? Việc này, nhìn rộng ra,
đóng góp một phần không nhỏ cho chất lượng tăng trưởng kinh tế - xã hội kể cả
giảm thiểu những thiệt hại do các văn bản sai trái gây ra cho Nhà nước, cho xã
hội, cho công dân. Đóng góp của cơ chế "hậu kiểm" văn bản QPPL chính
là ở đây. Đấy là chưa kể, do có cơ chế "hậu kiểm" mà người ta đã e dè
hơn, cẩn trọng hơn trong việc ban hành văn bản. Rất nhiều trường hợp mà tôi
biết, người ký văn bản đã nâng lên, đặt xuống, băn khoăn, trăn trở, yêu cầu căn
chỉnh, hoàn thiện nhiều lần rồi mới quyết định ký ban hành. Không còn hiện
tượng coi thường, dễ dãi trong việc ban hành văn bản như trong nhiều năm trước
đây. Đã xuất hiện đây đó việc kiểm điểm trách nhiệm của người đã tham mưu, ký
ban hành văn bản sai trái gây hậu quả. Đây là một điều rất đáng mừng trong điều
kiện phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, xây dựng nhà nước pháp quyền hiện
nay.
Vậy
theo ông, nguyên nhân tình trạng ban hành văn bản sai trái do đâu?
TS.Lê
Hồng Sơn:
Vấn đề này đã được nêu nhiều rồi, tình trạng ban hành văn bản sai trái có nhiều
nguyên nhân, khách quan có, chủ quan có. Về mặt khách quan, như các quan hệ xã
hội ngày càng phát triển, sự điều chỉnh của pháp luật đòi hỏi ngày càng đi vào
chiều sâu, do đó việc đưa ra các quy định phù hợp không phải dễ dàng chút nào.
Về chủ quan thì trình độ người soạn thảo còn hạn chế, quy trình soạn thảo không
được tuân thủ nghiêm túc, việc thực hiện các bước trong quy trình còn hình
thức, chưa thực chất…nhiều lúc người đứng đầu còn khoán trắng cho cấp dưới, cho
chuyên viên, thiếu sự quan tâm đúng mức. Thậm chí, còn có cả yếu tố lợi ích cục
bộ, lợi ích nhóm, ngành và cũng không loại trừ có tiêu cực tham nhũng chi phối
mà tôi hay nói là lobby đen.
Cần lưu ý thêm, người ta hay nói đến
nguyên nhân hạn chế là quy trình, thủ tục, tôi cho rằng cũng không hẳn như vậy.
Với quy trình, thủ tục hiện hành nên tổ chức thực hiện cho nghiêm chỉnh, bài
bản, thực chất thì mức độ sai không như vừa qua. Vấn đề là người ta triển khai
một cách hình thức hời hợt, làm cho có, đối phó… Cũng có người cho là lực lượng
pháp chế Bộ, ngành, tư pháp địa phương mỏng, yếu, theo tôi đây chỉ là một
nguyên nhân. Và nhìn rộng ra trong toàn bộ hệ thống công chức. Sự yếu kém của một
bộ phận không nhỏ của hệ thống công chức trong việc tham mưu, hoạch định thể
chế, chính sách mới là nguyên nhân
Trong
thời gian qua có khá nhiều văn bản QPPL trái pháp luật. Tuy nhiên, việc xử lý
mới chỉ dừng lại ở mức thu hồi, hủy bỏ rồi làm lại mà chưa có sự xử lý người ban
hành văn bản trái luật cũng như chưa thấy có việc bồi thường thiệt hại nào cho
người dân, doanh nghiệp do văn bản gây ra. Ông nghĩ gì về điều này?
TS.Lê
Hồng Sơn:
Đây là vấn đề đáng lưu tâm. Rất tiếc là khi xác lập cơ chế bồi thường nhà nước
đã không thiết lập trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước trong việc ban
hành văn bản QPPL trái pháp luật. Đồng ý đây là việc cực kỳ khó, ít nơi dám
làm. Theo tôi, vấn đề này cũng cần phải nghiên cứu để đảm bảo nguyên tắc nhà
nước pháp quyền.
Về vấn đề xử lý người tham mưu, ban
hành văn bản trái luật thì đây cũng là một vấn cần phải bàn. Hiện nay, các quy
định để xử lý thì cũng đã có, tuy chưa thật "đặc định". Vấn đề là
chưa làm đến nơi đến chốn mà thôi. Ví dụ, có thể xử lý kỷ luật cán bộ, công
chức hoặc cắt thi đua, khen thưởng, thậm chí có thể truy cứu trách nhiệm hình
sự theo các tội cố ý làm trái, tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
hay tôi tham nhũng... Theo tôi biết, cắt thi đua người ta đã làm nhiều rồi còn
cách chức, buộc thôi việc thì chỉ có một số ít trường hợp, Người ta chưa đẩy
vấn đề đến mức cách chức, buộc thôi việc người tham mưu, ban hành thể chế sai
là một thiếu sót. Về xử lý hình sự thì thực tế chưa thấy xử ai cả. Mà có xử thì
cũng chỉ luận tội cùng với một loạt tội khác và phần này thường bị yếu, bị chìm
đi. Tôi thấy chưa có phiên tòa nào xử riêng đối với tội phạm này, loại sai phạm
này.
Để có tình trạng như vậy, tôi cho rằng một phần nguyên nhân cũng do cơ
chế “hậu kiểm” thiếu sức mạnh cần thiết vì quyền của chúng tôi chỉ dừng ở mức
tham mưu, thông báo kiến nghị, không có quyền trực tiếp xử lý, hủy bỏ, bãi bỏ. Tôi
luôn mơ đến cơ chế tài phán mà nhiều nước đã sử dụng từ lâu như cơ chế bảo
hiến, cơ chế tuyên hủy của tòa đối với văn bản trái pháp luật...
Cảm nhận của cá
nhân ông qua 10 năm triển khai công tác kiểm tra văn bản?
TS.Lê Hồng Sơn: Điều tôi tâm niệm nhất, kiểm tra văn bản QPPL là công tác hết sức khó
khăn, gian khổ, đụng chạm, đòi hỏi người làm công tác này phải có trình độ, bản
lĩnh và quan trọng hơn là phải có tâm vì sự nghiệp chung. Có thể nói, 10 năm
triển khai cơ chế “hậu kiểm” là 10 năm tác nghiệp thắng lợi, tác động một cách
toàn diện, sâu sắc đến toàn bộ cơ chế xây dựng, hoàn thiện hệ thống PL của Nhà
nước ta. Từ chỗ đơn giản, tùy tiện, trong nhiều năm gần đây, người ta đã cẩn
trọng hơn trong quá trình nghiên cứu, soạn thảo, xem xét, ban hành VBQPPL. Sai
trái vẫn còn, nhưng có thể nói, những sai trái lớn, nghiêm trọng như hồi đầu
triển khai công tác này, hiện nay ngày càng ít đi. Các cơ quan, tổ chức, công
dân từ chỗ e ngại, nghi ngờ, đến nay có thể nói đã có sự tin tưởng lớn đối với
công tác “hậu kiểm” của chúng tôi.
Về triển khai công việc cụ thể, như các bạn đã biết, với cả “núi” công
việc đầy gian khó trong công tác này, tôi cùng anh em trong Cục luôn trăn trở,
suy nghĩ để có các giải pháp thực thi hiệu quả. Nếu không chú ý các giải pháp
này thì điều tôi ngại nhất là công tác kiểm tra sẽ chỉ được như “cô Cám nhặt
sạn” một cách hình thức, chiếu lệ, đối phó. Tôi là người điều hành, chỉ đạo
chung nhưng hàng ngày cũng phải vào cuộc tác nghiệp trực tiếp với anh em.
Nhiều lúc cũng thấy thật khó, tưởng như không vượt qua được nhưng
10 năm qua, tôi thấy rằng, chưa bao giờ chúng tôi phải “bó tay”. Có những VB
phải họp đi họp lại đến 7-8 lần... Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo Chính phủ phải
vào cuộc. Nhiều khi phải thuyết phục cả cơ quan ban hành VB sai trái lẫn những
người có thẩm quyền xử lý công việc. Chúng tôi đã cố gắng bóc tách, phân loại
từng loại, từng mức độ sai phạm để có biện pháp xử lý thích hợp. Có trường hợp
chỉ nêu vấn đề để người ta đính chính, rút kinh nghiệm trong soạn thảo, không
để sai tiếp. Nhiều trường hợp chúng tôi mời đến họp, thảo luận. Người ta nhận
ra nội dung sai ngay và xin được tự xử lý ngay, không cần phải thông báo rùm
beng. Chỉ một số rất ít, cá biệt buộc chúng tôi phải có thông báo và quá trình
xử lý một số VB cũng hết sức “gian khổ”.
Làm việc khó khăn, vất vả như vậy, nhưng anh em thấy cũng phấn khởi vì
qua đó bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, của doanh nghiệp,
đặc biệt là những người dân "thấp cổ bé họng". Ví dụ, yêu cầu hủy văn bản cấm học sinh, sinh viên các trường văn hóa - nghệ
thuật biểu diễn, tham gia biểu diễn tại các quán bar, vũ trường, quán karaoke…
giúp "cởi trói" cho hàng vạn học sinh, sinh viên các trường văn hóa -
nghệ thuật, tạo điều kiện cho các em được biểu diễn, tham gia biểu diễn để nâng
cao năng khiếu, sở trường, cải thiện cuộc sống và cũng góp phần nâng cao đời
sống tinh thần của xã hội; hay kiến nghị xử lý quy định về tiêu chuẩn
sức khỏe của người điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ mà dư luận gọi là
"ngực lép, chân ngắn" làm hạn chế quyền công dân sử dụng phương tiện
giao thông; rồi quyền được hưởng chế độ, chính sách của các cụ cao tuổi; quyền
của những người tham gia bảo hiểm y tế; quyền được hưởng chế độ về cư trú theo
quy định của luật; quyền được lưu thông hàng hóa mà không bị ngăn sông cấm chợ;
giúp cho người dân không bị xử phạt vi phạm hành chính một cách tùy tiện theo
quy định của địa phương...
Đối với doanh nghiệp, chúng tôi cũng xử lý một số văn bản sai trái giúp cho
doanh nghiệp được thuận lợi hơn trong sản xuất, kinh doanh, xuất, nhập khẩu. Kể
cả giúp cởi trói cho một số doanh nghiệp thoát khỏi nhưng sự ràng buộc, o ép
một cách vô lý.
Vừa rồi, ông có nêu những bất cập trong một số Nghị định
do Chính phủ ban hành. Đề nghị ông nói rõ
hơn việc này?
TS.Lê
Hồng Sơn: Đúng.
Trong thời gian vừa qua tôi có nêu một số bất cập trong một số Nghị định do
Chính phủ ban hành. Chắc các bạn còn nhớ, có thể điểm một vài ví dụ điển hình
như Nghị định về Chứng minh nhân dân có tên cha, mẹ; Nghị định về tổ chức tang
lễ cán bộ công chức không được lắp ô kính… Và gần đây, tôi cũng đang nêu vấn đề
cần phải xem xét lại Nghị định số 145 về tổ chức ngày kỷ niệm; nghi thức trao
tặng, đón nhận hình thức khen thưởng, danh hiệu thi đua; nghi lễ đối ngoại và
đón, tiếp khách nước ngoài.
Theo quy định, trong quá trình kiểm
tra, rà soát văn bản QPPL, nếu phát hiện văn bản cấp trên có hạn chế, bất cập
thì cần phải có kiến nghị đề xuất xử lý kịp thời. Là người đứng đầu cơ quan
kiểm tra, rà soát văn bản thì tôi có trách nhiệm thực hiện yêu cầu này theo quy
định hiện hành. Mặt khác, với tư cách là một chuyên gia pháp luật, một công dân
trong xã hội, tôi, cũng như mọi công dân khác, có quyền và có trách nhiệm phản
ánh những hạn chế, bất cập trong các văn bản QPPL giúp cho cơ quan nhà nước có
những "phản ứng chính sách" kịp thời.
Xin cảm
ơn ông!
Hương Giang - Duy Thắng (thực hiện)