Không chịu "bó tay" vì quyền lợi chung
Sign In

Không chịu "bó tay" vì quyền lợi chung

"Thông điệp của Thủ tướng Chính phủ nhân dịp năm mới, trong đó có nhấn mạnh việc tập trung, nỗ lực xây dựng nhà nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật, xây dựng kỷ luật kỷ cương nhà nước; đề cao trách nhiệm của Chính phủ trong việc đảm bảo chất lượng xây dựng VBQPPL, là một dấu ấn cực kỳ quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế của đất nước nói chung và công tác kiểm tra VBQQPL nói riêng" - TS.Lê Hồng Sơn (Cục trưởng Cục Kiểm tra VBQPPL, Bộ Tư pháp) chia sẻ như vậy khi bàn định về công tác Kiểm tra VBQQPL trong năm 2014.

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ có thông điệp nhân dịp năm mới. Trong đó có nhấn mạnh việc tập trung, nỗ lực xây dựng nhà nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật, xây dựng kỷ luật kỷ cương nhà nước; đề cao trách nhiệm của Chính phủ trong việc đảm bảo chất lượng xây dựng VBQPPL. Xin ông cho biết quan điểm của mình về thông điệp của Thủ tướng liên quan đến nội dung nêu trên?

TS.Lê Hồng Sơn: Tôi rất mừng khi tiếp nhận thông điệp này. Đây là một dấu ấn cực kỳ quan trọng. Người đứng đầu Chính phủ đã trực tiếp khẳng định yêu cầu nỗ lực xây dựng nhà nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật. Đặc biệt Thủ tướng yêu cầu bảo đảm chất lượng xây dựng văn bản QPPL. Tôi cho rằng, văn bản QPPL có vị trí đặc biệt, có thể nói là hàng đầu trong hệ thống các văn bản quản lý nhà nước. Chất lượng văn bản QPPL có bảo đảm thì mới làm cơ sở, chỗ dựa, công cụ có hiệu quả cho quản lý nhà nước. Thực tế, trong rất nhiều năm qua đã chỉ ra một điều là văn bản QPPL được ban hành rất nhiều, nhưng chất lượng của nhiều văn bản chưa cao. Cá biệt có khiếm khuyết, thiếu sót nghiêm trọng, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân mà còn, nếu chú ý một chút sẽ thấy trong thời gian qua, trên thực tế, đã tạo những phản ứng, hiệu ứng không tốt trong xã hội. Đó là tâm lý phản biện, thiếu sự tin tưởng đối với quy định của pháp luật trong một số bộ phận nhân dân. Thậm chí làm xói mòn, mất lòng tin của xã hội đối với bộ máy quản lý. Thủ tướng khẳng định bảo đảm chất lượng văn bản QPPL đòi hỏi phải có một loạt các giải pháp đi theo để thực hiện yêu cầu này.

Theo ông, có mối quan hệ thế nào giữa xây dựng nhà nước pháp quyền với việc bảo đảm chất lượng của văn bản QPPL?

TS.Lê Hồng Sơn: Chúng ta đều biết xây dựng nhà nước pháp quyền đặt ra nhiều yêu cầu, nhiều nội dung, nhiều mục tiêu, được triển khai một cách đồng bộ, quyết liệt và phải có lộ trình. Điểm đáng chú ý là không thể xây dựng nhà nước pháp quyền với một hệ thống văn bản QPPL không có chất lượng, có nhiều tồn tại, hạn chế. Đối với nhà nước pháp quyền, một trong những yêu cầu đầu tiên là phải có một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, sát thực, có hiệu lực, hiệu quả. Hệ thống văn bản QPPL vừa là sản phẩm, vừa là công cụ của nhà nước pháp quyền. Hệ thống văn bản QPPL ở nước ta do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ trung ương đến địa phương ban hành và được hoàn thiện, củng cố suốt mấy chục năm qua. Chính hệ thống văn bản QPPL là công cụ để nhà nước ta thực hiện việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Cao hơn nữa, đây là công cụ để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Phải thừa nhận, thời gian vừa qua, vẫn còn hiện tượng văn bản QPPL được ban hành không bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ cũng như tính khả thi. Nhà nước pháp quyền không cho phép tồn tại tình trạng này. Nhà nước pháp quyền sẽ tạo điều kiện xây dựng một hệ thống pháp luật tốt. Ngược lại, hệ thống pháp luật tốt góp phần bảo đảm xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền

Công tác kiểm tra văn bản có vị trí thế nào trong vấn đề bảo đảm chất lượng của hệ thống pháp luật?

TS.Lê Hồng Sơn: Cách đây hơn 10 năm, trong dịp sửa đổi Hiến pháp 1992, nhân việc Viện Kiểm sát không còn đảm nhiệm chức năng kiểm sát chung, bác Nguyễn Đình Lộc, Bộ trưởng Tư pháp lúc đó có giao cho tôi nghiên cứu cơ chế hậu kiểm văn bản QPPL trong các cơ quan hành chính nhà nước. Lúc đó, tôi thấy ngay là mấy chục năm qua, từ lúc thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến nay, cơ chế kiểm tra văn bản trong nội bộ cơ quan hành chính nhà nước không được triển khai một cách bài bản, thiếu bộ máy, thiếu thủ tục, quy trình để thực hiện. Mặc dù Hiến pháp, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước có giao thẩm quyền, trách nhiệm cho cơ quan cấp trên kiểm tra, xử lý, đình chỉ, hủy bỏ, bãi bỏ văn bản của cơ quan cấp dưới, tuy vậy, không có bộ máy, nhân sự chuyên trách để tham mưu đề xuất, thành ra việc này không được thực thi một cách bài bản, trở thành thẩm quyền "treo", không được thực hiện trong thực tế. Văn bản sai trái có nhiều, nhưng hầu như không được xử lý thấu đáo.

Để khắc phục thiếu sót này, chúng tôi đã đề xuất và được Quốc hội, Chính phủ chấp thuận xác lập cơ chế "hậu kiểm" văn bản QPPL trong các cơ quan hành chính nhà nước. Về bản chất, đây là cơ chế "hậu kiểm" mang tính chất nội bộ trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước các cấp. Chúng tôi đã đề xuất xây dựng một hệ thống tổ chức để đảm nhiệm công việc này đó là Cục Kiểm tra văn bản QPPL thuộc Bộ Tư pháp, các tổ chức pháp chế Bộ, ngành và cơ quan tư pháp địa phương. Chức năng chính của các cơ quan này là thực hiện theo thẩm quyền việc "chấm" từng văn bản QPPL được ban hành. Phát hiện nội dung sai trái đồng thời đề xuất cơ chế xử lý theo quy định của Hiến pháp và luật.

Mục đích của hoạt động này chính là để phát hiện, loại bỏ những nội dung sai trái của văn bản QPPL nhằm bảo đảm cho một hệ thống pháp luật tinh sạch, hiệu lực, hiệu quả. Cùng với cơ chế lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, các thành phần khác nhau trong xã hội, cơ chế thẩm định, thẩm tra của các cơ quan có thẩm quyền giúp cho việc ban hành văn bản đạt chất lượng thì cơ chế kiểm tra văn bản giữ vai trò như người "gác gôn" sau cùng, ngay sau khi văn bản QPPL được ban hành. Người ta gọi cơ chế kiểm tra văn bản là cơ chế "hậu kiểm" là hoàn toàn chính xác.

Người ta hay ví việc này như "đãi gạo nhặt sạn", hoặc như "dọn vườn" cùng với các nghệ danh trước đây như ông Sơn hương ước, ông Sơn văn bản. Tôi cũng được người ta phong thêm một nghệ danh là "ông Sơn kiểm tra văn bản", "ông Sơn tuýt còi". Nhiều khi cũng thấy vui vui. Được dư luận, người đời ghi nhận, khẳng định là một điều rất đáng quý. Mình phải cố gắng thôi, mặc dù phải chịu nhiều áp lực, nhiều sức ép, nhiều tác động. Lắm lúc băn khoăn, trăn trở, day dứt. Cũng nhiều lúc được anh em nhắc nhở phải thận trọng, cảnh giác. Tôi nghĩ, là cái "nghiệp" rồi. Đã mang "nghiệp" vào thân thì phải cố gắng, không e ngại, né tránh.

 Sau 10 năm triển khai công tác kiểm tra văn bản QPPL, đề nghị ông cho biết thực trạng ban hành văn bản QPPL hiện nay như thế nào?

TS.Lê Hồng Sơn: Phải nói thế này, từ góc nhìn, nghiệp vụ của chúng tôi có thể thấy rất rõ những hạn chế, thiếu sót, bất cập của hệ thống pháp luật Việt Nam. Bức tranh pháp luật của ta, "mảng sáng" là cơ bản. Nhưng vẫn còn những "mảng tối", những văn bản có nội dung sai trái cần phải xử lý hủy bỏ, bãi bỏ. Và kể cả những mảng "nhờ nhờ" không ra "sáng" cũng như không ra "tối". Tôi muốn nói tới những văn bản vô thưởng, vô phạt, thiếu tính khả thi, không giúp ích gì cho đời sống xã hội, cho công tác quản lý, ban hành rồi để đấy không ai thèm ngó ngàng, đếm xỉa gì đến. Số liệu về kết quả công tác kiểm tra văn bản QPPL trong cả nước đã chỉ rõ những điều này.

Sau 10 năm, trên cả nước đã thực hiện kiểm tra được hơn 3,6 triệu văn bản, phát hiện hơn 90 nghìn văn bản có dấu hiệu sai phạm và đã được xử lý ở các mức độ khác nhau. Số liệu này báo chí đã đưa và công luận đã biết. Đáng chú ý trong số hơn 90 nghìn văn bản này, có khoảng gần 10 nghìn văn bản QPPL có dấu hiệu sai phạm về nội dung cần phải xử lý đình chỉ thi hành, hủy bỏ, bãi bỏ. Cứ thử hình dung, nếu không có cơ chế hậu kiểm trong 10 năm qua và cứ để hàng chục nghìn văn bản sai trái này trôi nổi, "phát tác" trong xã hội thì hậu quả sẽ thế nào"? Việc này, nhìn rộng ra, đóng góp một phần không nhỏ cho chất lượng tăng trưởng kinh tế - xã hội kể cả giảm thiểu những thiệt hại do các văn bản sai trái gây ra cho Nhà nước, cho xã hội, cho công dân. Đóng góp của cơ chế "hậu kiểm" văn bản QPPL chính là ở đây. Đấy là chưa kể, do có cơ chế "hậu kiểm" mà người ta đã e dè hơn, cẩn trọng hơn trong việc ban hành văn bản. Rất nhiều trường hợp mà tôi biết, người ký văn bản đã nâng lên, đặt xuống, băn khoăn, trăn trở, yêu cầu căn chỉnh, hoàn thiện nhiều lần rồi mới quyết định ký ban hành. Không còn hiện tượng coi thường, dễ dãi trong việc ban hành văn bản như trong nhiều năm trước đây. Đã xuất hiện đây đó việc kiểm điểm trách nhiệm của người đã tham mưu, ký ban hành văn bản sai trái gây hậu quả. Đây là một điều rất đáng mừng trong điều kiện phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay.

Vậy theo ông, nguyên nhân tình trạng ban hành văn bản sai trái do đâu?

TS.Lê Hồng Sơn: Vấn đề này đã được nêu nhiều rồi, tình trạng ban hành văn bản sai trái có nhiều nguyên nhân, khách quan có, chủ quan có. Về mặt khách quan, như các quan hệ xã hội ngày càng phát triển, sự điều chỉnh của pháp luật đòi hỏi ngày càng đi vào chiều sâu, do đó việc đưa ra các quy định phù hợp không phải dễ dàng chút nào. Về chủ quan thì trình độ người soạn thảo còn hạn chế, quy trình soạn thảo không được tuân thủ nghiêm túc, việc thực hiện các bước trong quy trình còn hình thức, chưa thực chất…nhiều lúc người đứng đầu còn khoán trắng cho cấp dưới, cho chuyên viên, thiếu sự quan tâm đúng mức. Thậm chí, còn có cả yếu tố lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm, ngành và cũng không loại trừ có tiêu cực tham nhũng chi phối mà tôi hay nói là lobby đen.

Cần lưu ý thêm, người ta hay nói đến nguyên nhân hạn chế là quy trình, thủ tục, tôi cho rằng cũng không hẳn như vậy. Với quy trình, thủ tục hiện hành nên tổ chức thực hiện cho nghiêm chỉnh, bài bản, thực chất thì mức độ sai không như vừa qua. Vấn đề là người ta triển khai một cách hình thức hời hợt, làm cho có, đối phó… Cũng có người cho là lực lượng pháp chế Bộ, ngành, tư pháp địa phương mỏng, yếu, theo tôi đây chỉ là một nguyên nhân. Và nhìn rộng ra trong toàn bộ hệ thống công chức. Sự yếu kém của một bộ phận không nhỏ của hệ thống công chức trong việc tham mưu, hoạch định thể chế, chính sách mới là nguyên nhân

Trong thời gian qua có khá nhiều văn bản QPPL trái pháp luật. Tuy nhiên, việc xử lý mới chỉ dừng lại ở mức thu hồi, hủy bỏ rồi làm lại mà chưa có sự xử lý người ban hành văn bản trái luật cũng như chưa thấy có việc bồi thường thiệt hại nào cho người dân, doanh nghiệp do văn bản gây ra. Ông nghĩ gì về điều này?

TS.Lê Hồng Sơn: Đây là vấn đề đáng lưu tâm. Rất tiếc là khi xác lập cơ chế bồi thường nhà nước đã không thiết lập trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước trong việc ban hành văn bản QPPL trái pháp luật. Đồng ý đây là việc cực kỳ khó, ít nơi dám làm. Theo tôi, vấn đề này cũng cần phải nghiên cứu để đảm bảo nguyên tắc nhà nước pháp quyền.

Về vấn đề xử lý người tham mưu, ban hành văn bản trái luật thì đây cũng là một vấn cần phải bàn. Hiện nay, các quy định để xử lý thì cũng đã có, tuy chưa thật "đặc định". Vấn đề là chưa làm đến nơi đến chốn mà thôi. Ví dụ, có thể xử lý kỷ luật cán bộ, công chức hoặc cắt thi đua, khen thưởng, thậm chí có thể truy cứu trách nhiệm hình sự theo các tội cố ý làm trái, tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng hay tôi tham nhũng... Theo tôi biết, cắt thi đua người ta đã làm nhiều rồi còn cách chức, buộc thôi việc thì chỉ có một số ít trường hợp, Người ta chưa đẩy vấn đề đến mức cách chức, buộc thôi việc người tham mưu, ban hành thể chế sai là một thiếu sót. Về xử lý hình sự thì thực tế chưa thấy xử ai cả. Mà có xử thì cũng chỉ luận tội cùng với một loạt tội khác và phần này thường bị yếu, bị chìm đi. Tôi thấy chưa có phiên tòa nào xử riêng đối với tội phạm này, loại sai phạm này.

Để có tình trạng như vậy, tôi cho rằng một phần nguyên nhân cũng do cơ chế “hậu kiểm” thiếu sức mạnh cần thiết vì quyền của chúng tôi chỉ dừng ở mức tham mưu, thông báo kiến nghị, không có quyền trực tiếp xử lý, hủy bỏ, bãi bỏ. Tôi luôn mơ đến cơ chế tài phán mà nhiều nước đã sử dụng từ lâu như cơ chế bảo hiến, cơ chế tuyên hủy của tòa đối với văn bản trái pháp luật...

 Cảm nhận của cá nhân ông qua 10 năm triển khai công tác kiểm tra văn bản?

TS.Lê Hồng Sơn: Điều tôi tâm niệm nhất, kiểm tra văn bản QPPL là công tác hết sức khó khăn, gian khổ, đụng chạm, đòi hỏi người làm công tác này phải có trình độ, bản lĩnh và quan trọng hơn là phải có tâm vì sự nghiệp chung. Có thể nói, 10 năm triển khai cơ chế “hậu kiểm” là 10 năm tác nghiệp thắng lợi, tác động một cách toàn diện, sâu sắc đến toàn bộ cơ chế xây dựng, hoàn thiện hệ thống PL của Nhà nước ta. Từ chỗ đơn giản, tùy tiện, trong nhiều năm gần đây, người ta đã cẩn trọng hơn trong quá trình nghiên cứu, soạn thảo, xem xét, ban hành VBQPPL. Sai trái vẫn còn, nhưng có thể nói, những sai trái lớn, nghiêm trọng như hồi đầu triển khai công tác này, hiện nay ngày càng ít đi. Các cơ quan, tổ chức, công dân từ chỗ e ngại, nghi ngờ, đến nay có thể nói đã có sự tin tưởng lớn đối với công tác “hậu kiểm” của chúng tôi.

Về triển khai công việc cụ thể, như các bạn đã biết, với cả “núi” công việc đầy gian khó trong công tác này, tôi cùng anh em trong Cục luôn trăn trở, suy nghĩ để có các giải pháp thực thi hiệu quả. Nếu không chú ý các giải pháp này thì điều tôi ngại nhất là công tác kiểm tra sẽ chỉ được như “cô Cám nhặt sạn” một cách hình thức, chiếu lệ, đối phó. Tôi là người điều hành, chỉ đạo chung nhưng hàng ngày cũng phải vào cuộc tác nghiệp trực tiếp với anh em.

Nhiều lúc cũng thấy thật khó, tưởng như không vượt qua được nhưng 10 năm qua, tôi thấy rằng, chưa bao giờ chúng tôi phải “bó tay”. Có những VB phải họp đi họp lại đến 7-8 lần...  Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo Chính phủ phải vào cuộc. Nhiều khi phải thuyết phục cả cơ quan ban hành VB sai trái lẫn những người có thẩm quyền xử lý công việc. Chúng tôi đã cố gắng bóc tách, phân loại từng loại, từng mức độ sai phạm để có biện pháp xử lý thích hợp. Có trường hợp chỉ nêu vấn đề để người ta đính chính, rút kinh nghiệm trong soạn thảo, không để sai tiếp. Nhiều trường hợp chúng tôi mời đến họp, thảo luận. Người ta nhận ra nội dung sai ngay và xin được tự xử lý ngay, không cần phải thông báo rùm beng. Chỉ một số rất ít, cá biệt buộc chúng tôi phải có thông báo và quá trình xử lý một số VB cũng hết sức “gian khổ”.

Làm việc khó khăn, vất vả như vậy, nhưng anh em thấy cũng phấn khởi vì qua đó bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, của doanh nghiệp, đặc biệt là những người dân "thấp cổ bé họng". Ví dụ, yêu cầu hủy văn bản cấm học sinh, sinh viên các trường văn hóa - nghệ thuật biểu diễn, tham gia biểu diễn tại các quán bar, vũ trường, quán karaoke… giúp "cởi trói" cho hàng vạn học sinh, sinh viên các trường văn hóa - nghệ thuật, tạo điều kiện cho các em được biểu diễn, tham gia biểu diễn để nâng cao năng khiếu, sở trường, cải thiện cuộc sống và cũng góp phần nâng cao đời sống tinh thần của xã hội; hay kiến nghị xử lý quy định về tiêu chuẩn sức khỏe của người điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ mà dư luận gọi là "ngực lép, chân ngắn" làm hạn chế quyền công dân sử dụng phương tiện giao thông; rồi quyền được hưởng chế độ, chính sách của các cụ cao tuổi; quyền của những người tham gia bảo hiểm y tế; quyền được hưởng chế độ về cư trú theo quy định của luật; quyền được lưu thông hàng hóa mà không bị ngăn sông cấm chợ; giúp cho người dân không bị xử phạt vi phạm hành chính một cách tùy tiện theo quy định của địa phương...

Đối với doanh nghiệp, chúng tôi cũng xử lý một số văn bản sai trái giúp cho doanh nghiệp được thuận lợi hơn trong sản xuất, kinh doanh, xuất, nhập khẩu. Kể cả giúp cởi trói cho một số doanh nghiệp thoát khỏi nhưng sự ràng buộc, o ép một cách vô lý.

Vừa rồi, ông có nêu những bất cập trong một số Nghị định do Chính phủ ban hành. Đề nghị ông nói rõ hơn việc này?

TS.Lê Hồng Sơn: Đúng. Trong thời gian vừa qua tôi có nêu một số bất cập trong một số Nghị định do Chính phủ ban hành. Chắc các bạn còn nhớ, có thể điểm một vài ví dụ điển hình như Nghị định về Chứng minh nhân dân có tên cha, mẹ; Nghị định về tổ chức tang lễ cán bộ công chức không được lắp ô kính… Và gần đây, tôi cũng đang nêu vấn đề cần phải xem xét lại Nghị định số 145 về tổ chức ngày kỷ niệm; nghi thức trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng, danh hiệu thi đua; nghi lễ đối ngoại và đón, tiếp khách nước ngoài.

Theo quy định, trong quá trình kiểm tra, rà soát văn bản QPPL, nếu phát hiện văn bản cấp trên có hạn chế, bất cập thì cần phải có kiến nghị đề xuất xử lý kịp thời. Là người đứng đầu cơ quan kiểm tra, rà soát văn bản thì tôi có trách nhiệm thực hiện yêu cầu này theo quy định hiện hành. Mặt khác, với tư cách là một chuyên gia pháp luật, một công dân trong xã hội, tôi, cũng như mọi công dân khác, có quyền và có trách nhiệm phản ánh những hạn chế, bất cập trong các văn bản QPPL giúp cho cơ quan nhà nước có những "phản ứng chính sách" kịp thời.

Xin cảm ơn ông!

Hương Giang - Duy Thắng (thực hiện)
Chung nhan Tin Nhiem Mang