Cụ thể:
(1) Quyết định số 135/2000/QĐ-TTg ngày 28 tháng 11 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân;
(2) Quyết định số 92/2005/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ đối với quân nhân là người dân tộc ít người thuộc Quân khu 7, Quân khu 9, tham gia kháng chiến chống Mỹ, về địa phương trước ngày 10 tháng 01 năm 1982;
(3) Quyết định số 230/2005/QĐ-TTg ngày 21 tháng 9 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ thí điểm cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam;
(4) Quyết định số 117/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 8 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh mức đóng bảo hiểm y tế đối với các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội;
(5) Quyết định số 39/2009/QĐ-TTg ngày 09 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về quy chế phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm và lực lượng dân quân tự vệ trong công tác bảo vệ rừng.
Đây là hiệu quả tích cực của công tác pháp điển hệ thông QPPL thông qua việc rà soát, làm sạch văn bản QPPL sử dụng để pháp điển.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước ta được ban hành từ khi thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945). Trong hơn 70 năm ban hành văn bản, việc quy định cụ thể quy trình soạn thảo văn bản cũng như quy định về việc xác định văn bản hết hiệu lực không được rõ ràng, thống nhất, thậm chí còn không được đề cập tới. Tuy nhiên, sau khi Quốc hội thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 thì việc xác định văn bản hết hiệu lực được quy định rõ hơn một ít. Mặc dù, Nghị định số 16/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ (này là Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) quy định việc về rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật quy định việc rà soát thường xuyên để kịp thời xử lý (sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ) các quy định mâu thuẫn, chồng chéo, không còn phù hợp. Tuy nhiên, thực tế, các bộ, ngành triển khai thực hiện chưa thường xuyên nên nhiều văn bản hết hiệu lực toàn bộ hoặc hết hiệu lực một phần chưa được xử lý.
Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 63/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh pháp điển hệ thống QPPL, khi thực hiện pháp điển phát hiện có QPPL mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế trong văn bản do mình ban hành hoặc trong văn bản liên tịch do mình chủ trì soạn thảo, thì cơ quan thực hiện pháp điển xử lý theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản QPPL. Trường hợp phát hiện có QPPL mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tế trong văn bản không do mình ban hành hoặc văn bản liên tịch do mình chủ trì soạn thảo thì cơ quan thực hiện pháp điển kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản QPPL.
Qua việc thực hiện pháp điển hệ thống QPPL vào các 67 đề mục đã được Chính phủ thông qua bởi Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 13/6/2017 và Nghị quyết số 07/NQ-CP ngày 18/01/2018 của Chính phủ, các bộ, ngành rà soát, làm “sạch” được hơn 2 nghìn văn bản trên tổng số khoảng gần 10 nghìn văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương, góp phần phần nâng cao tính thống nhất, đồng bộ, công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật. Các cơ quan thực hiện pháp điển đã xác định được một số văn bản QPPL thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong các lĩnh vực: quốc phòng; tài chính; ngân hàng không còn được áp dụng trên thực tế và cần được bãi bỏ. Trên cơ sở đề xuất của các bộ, ngành, tại Nghị quyết số 07/NQ-CP, Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ một số văn bản QPPL thuộc thẩm quyền ban hành của Thủ tướng Chính phủ không còn áp dụng trên thực tế theo trình tự, thủ tục rút gọn trình Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Theo đó, các bộ, ngành đã có công văn đề xuất bãi bỏ đối với 05 văn bản QPPL của Thủ tướng Chính phủ là các văn bản không còn được áp dụng trên thực tế, cụ thể như sau:
1. Đối với Quyết định số 135/2000/QĐ-TTg ngày 28/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân
Một số nội dung của Đề án củng cố hoàn thiện và phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân theo Quyết định số 135/2000/QĐ-TTg không còn phù hợp với thực tế do Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được ban hành, trong đó có quy định mới “Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã”. Mặt khác, tình hình kinh tế - xã hội, hoạt động ngân hàng đã có nhiều thay đổi.
Để củng cố, hoàn thiện hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân trong tình hình mới, trong giai đoạn 2010 - 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại Hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015”, trong đó có các giải pháp nhằm củng cố, hoàn thiện hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân. Do đó, từ thời điểm này quy định tại Quyết định số 135/2000/QĐ-TTg đã không còn được áp dụng trên thực tế.
Trên cơ sở tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Quyết định số 254/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017 phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020”. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước được giao xây dựng Đề án “Củng cố và phát triển hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân đến năm 2020, định hướng năm 2030” trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Hiện nay, Đề án đã được hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ xét duyệt nội dung để trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư cho ý kiến trước khi Thủ tướng Chính phủ ký ban hành (Tờ trình số 90/TTr-NHNN.m ngày 04/12/2017), dự kiến ban hành trong Quý II/2018.
2. Đối với Quyết định số 92/2005/QĐ-TTg ngày 29/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ đối với quân nhân là người dân tộc ít người thuộc Quân khu 7, Quân khu 9, tham gia kháng chiến chống Mỹ, về địa phương trước ngày 10/01/1982
Các nội dung quy định tại Quyết định số 92/2005/QĐ-TTg hiện nay được điều chỉnh tại Chương II (Điều kiện xác nhận và chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng và thân nhân), Chương III (Một số chế độ ưu đãi khác) Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ hướng dẫn Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng.
3. Đối với Quyết định số 230/2005/QĐ-TTg ngày 21/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ thí điểm cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Quyết định số 230/2005/QĐ-TTg chỉ áp dụng trong giai đoạn thí điểm từ 2006 - 2010. Thực hiện Quyết định số 230/2005/QĐ-TTg, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã thực hiện các thủ tục cổ phần hóa theo quy định của pháp luật. Phương án cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1289/QĐ-TTg ngày 26/9/2007. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chính thức chuyển đổi thành Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103024468 của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội.
4. Đối với Quyết định số 117/2008/QĐ-TTg ngày 27/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh mức đóng bảo hiểm y tế đối với các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội
Quyết định số 117/2008/QĐ-TTg quy định về mức đóng bảo hiểm y tế hàng tháng cho các đối tượng được khám, chữa bệnh theo quy định của Thủ tướng Chính phủ về việc khám, chữa bệnh cho người nghèo; mức đóng bảo hiểm y tế cho đồng bào các dân tộc thiểu số đang sinh sống tại một số vùng, người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội và người thuộc hộ gia đình cận nghèo.
Tuy nhiên, nội dung Quyết định số 117/2008/QĐ-TTg không còn phù hợp với quy định tại Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 và Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27/07/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Bảo hiểm y tế, cụ thể như sau:
- Về thẩm quyền quy định mức đóng bảo hiểm y tế: Điều 13 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 giao Chính phủ quy định cụ thể mức đóng, mức hỗ trợ bảo hiểm y tế. Như vậy, quy định về mức đóng và trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế tại Quyết định số 117/2008/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành là không phù hợp về thẩm quyền.
- Về nội dung quy định mức đóng bảo hiểm y tế đối với đối tượng thuộc diện chính sách xã hội: Hiện nay, mức đóng bảo hiểm y tế đối với các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội (người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người thuộc gia đình cận nghèo...) được thực hiện theo Nghị định số 105/2014/NĐ-CP ngày 15/11/2014 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế (thay thế quy định tại Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Bảo hiểm y tế). Ngoài ra, đối tượng đóng bảo hiểm y tế thuộc gia đình thuộc hộ cận nghèo còn phải thực hiện theo quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.
- Về hiệu lực văn bản là căn cứ pháp lý ban hành Quyết định số 117/2008/QĐ-TTg: Quyết định số 117/2008/QĐ-TTg có căn cứ ban hành là Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ ban hành Điều lệ bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, Nghị định này đã được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 điều 17 Nghị định số 62/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Bảo hiểm y tế, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2009.
5. Đối với Quyết định số 39/2009/QĐ-TTg ngày 09/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ về quy chế phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm và lực lượng dân quân tự vệ trong công tác bảo vệ rừng
Các nội dung quy định tại Quyết định số 39/2009/QĐ-TTg hiện nay được điều chỉnh bởi Mục 3 (Phối hợp của Dân quân tự vệ trong công tác bảo vệ và phòng, chống cháy rừng) thuộc Chương II (Phối hợp của Dân quân tự vệ với các lực lượng) của Nghị định số 133/2015/NĐ-CP ngày 28/12/2015 của Chính phủ quy định việc phối hợp của Dân quân tự vệ với các lực lượng trong hoạt động bảo vệ biên giới, biển đảo, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở; bảo vệ và phòng chống cháy rừng./.