- Giới thiệu cơ sở dữ liệu pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp
Ngày 28/5/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2015/NĐ-CP về Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Nghị định số 52/2015/NĐ-CP là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng một cách có hệ thống và khoa học cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Nghị định này đã quy định về việc xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, với phạm vi bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở Trung ương và do HĐND, UBND cấp tỉnh ban hành. Đồng thời, quy định về nguyên tắc và trách nhiệm cập nhật văn bản quy phạm pháp luật trên Cở sở dữ liệu quốc gia.
Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật là tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật dưới dạng văn bản điện tử do Chính phủ thống nhất quản lý, bao gồm các cơ sở dữ liệu thành phần: Cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật Trung ương và Cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật địa phương
[1]. Cơ sở dữ liệu pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp là một bộ phận của cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, là tập hợp các văn bản pháp luật trung ương và địa phương liên quan đến hoạt động đầu tư và hoạt động của các doanh nghiệp dưới dạng văn bản điện tử.
Theo quy định tại Điều 157 Luật ban hành quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13 ngày 22 tháng 6 năm 2015 của Quốc Hội về đăng tải và đưa tin văn bản quy phạm pháp luật, “
Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành phải được đăng tải toàn văn trên cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành và đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng, trừ văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bí mật nhà nước. Văn bản quy phạm pháp luật đăng tải trên cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật có giá trị sử dụng chính thức”. Như vậy, có thể nói, quy định này là một cơ sở phát lý hết sức quan trọng, khẳng định vị trí và giá trị của Cơ sở Quốc gia về văn bản pháp luật.
Bộ Tư pháp là cơ quan có thẩm quyền giúp Chính phủ quản lý nhà nước đối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật
[2]. Vì vậy, có thê nói Bộ Tư pháp giữ vai trò chủ đạo trong việc xây dựng, quản lý và duy trì Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.
Địa chỉ truy cập cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật là địa chỉ
http://vbpl.vn/. Có thể nói, đây là nguồn dữ liệu văn bản pháp luật điện tử chính thức và có đầy đủ cơ sở pháp lý duy nhất hiện nay ở Việt nam, được Chính phủ chỉ đạo xây dựng và đảm bảo tính hiệu lực. Các nhà đầu tư, các doanh nghiệp và những người quan tâm khác có thể tra cứu các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp tại địa chỉ
http://vbpl.vn/.
- Hiện trạng Cơ sở dữ liệu pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp
- Đánh giá khả năng tiếp cận cơ sở dữ liệu pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp
- Tính phổ cập
Cơ sở dữ liệu pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp nằm trong cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và cũng được đăng tải tại địa chỉ
http://vbpl.vn/. Vì vậy, tính phổ cập của địa chỉ
http://vbpl.vn/ cũng quyết định tính phổ cập của cơ sở dữ liệu pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp. Qua thời gian hơn một năm xây dựng và hoạt động, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật đã từng bước trở thành một hệ thống cơ sở dữ liệu đồ sộ và hiện đại.
Tuy nhiên, chủ yếu do thời gian hình thành chưa lâu và công tác truyền thông chưa được đẩy mạnh, phải nói rằng tính phổ cập của địa chỉ
http://vbpl.vn/ chưa cao. Các địa chỉ tìm kiếm, tra cứu, hỏi đáp pháp luật được tin dùng nhất trên thị trường hiện nay vẫn là một số trang tra cứu pháp luật tư nhân lâu năm, cho dù người dùng phải trả phí để sử dụng những trang tra cứu này với tiện ích tương đương như
http://vbpl.vn/. Thậm chí có nhiều người làm công việc thường xuyên tiếp xúc với pháp luật cũng không cập nhật địa chỉ
http://vbpl.vn/ vào danh mục địa chỉ tra cứu của mình, lại càng ít nhà đầu tư và doanh nghiệp biết đến và sử dụng cơ sở dữ liệu này.
- Ngôn ngữ
Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật sử dụng 02 ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng Anh. Đây là một sự tiến bộ đáng ghi nhận. Mặc dù văn bản pháp luật bằng tiếng Anh trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật cũng chỉ có tính tham khảo nhưng trong bối cảnh trên thị trường hiện nay có nhiều phiên bản tiếng Anh của cùng một văn bản pháp luật tiếng Việt và đôi khi các phiên bản này có sự vênh lệch đáng kể thì cần thiết phải có một bản dịch chính thức được cung cấp bởi một cơ quan cấp quốc gia để tránh tình trạng cùng một vấn đề có nhiều cách hiểu. Thêm vào đó, trong khi các trang tra cứu khác thường chỉ cung cấp văn bản pháp luật tiếng Anh cho thành viên cao cấp (cấp độ thành viên tương đương với mức phí phải trả), Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật cung cấp văn bản pháp luật bằng tiếng Anh một cách miễn phí, nhờ đó mở rộng số người có cơ hội được tiếp cận với văn bản pháp luật bằng tiếng Anh.
Xét riêng với cơ sở dữ liệu pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, việc các quy định pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp được dịch sang tiếng Anh là thực hiện đúng chủ trương mở cửa, hội nhập, tạo ra một môi trường đầu tư công khai, minh bạch, lành mạnh và an toàn để thu hút đầu tư nước ngoài. Điều này không chỉ mở ra cơ hội cho nhà đầu tư nước ngoài tham khảo về chính sách pháp luật của Việt Nam trước khi quyết định đầu tư mà còn tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tìm kiếm đối tác, bạn hàng trên khắp thế giới.
Tuy nhiên, trang tiếng Anh của Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật còn có một số hạn chế nhất định như sau:
Thứ nhất, về cơ cấu thông tin, trong khi người dùng tiếng Việt có thể sử dụng nhiều tính năng đa dạng và hữu ích như “Tin tức”, “Tình huống pháp luật” thì người dùng tiếng Anh chỉ có thể tra cứu văn bản pháp luật đơn thuần.
Thứ hai, về số lượng văn bản pháp luật bằng tiếng Anh, số văn bản pháp luật được dịch sang tiếng Anh chưa tương ứng với số văn bản pháp luật tiếng Việt. Đơn cử như: có 17 Bộ Luật bằng tiếng Việt nhưng chỉ có 01 Bộ Luật bằng tiếng Anh là Bộ luật Lao động năm 1994 – một văn bản đã hết hiệu lực toàn bộ; có 377 Luật bằng tiếng Việt nhưng chỉ có 57 Luật bằng tiếng Anh, may mắn rằng Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 và Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 đều đã được dịch sang tiếng Anh; đặc biệt không có văn bản pháp luật nào của cấp địa phương có bản dịch tiếng Anh (bao gồm cả thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh), trong khi đó các biện pháp thu hút đầu tư, ưu đãi đầu tư, thông tin quy hoạch của từng địa phương được thường được thể hiện rõ nét trong quyết định của UBND cấp tỉnh.
Vì những hạn chế trên, trang tiếng Anh của Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật thực sự mới chỉ dừng ở mức “trang tiếng Anh” mà chưa phải là “phiên bản tiếng Anh” của Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.
- Độ tương tác giữa người dùng và Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật
Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật được xây dựng với độ tương tác khá cao với người dùng, thông qua các tính năng hỗ trợ như: hướng dẫn khai thác (chức năng hướng dẫn chi tiết cách khai thác cơ sở dữ liệu theo từng tính năng), sơ đồ cổng thông tin (chức năng được xây dựng cho người dùng cuối có cái nhìn tổng thể về hệ thống Văn bản pháp luật) và liên hệ (hiện tại chỉ cung cấp thông tin chi tiết của người có trách nhiệm xây dựng cơ sở dữ liệu nhưng có định hướng xây dựng cho người dùng cuối có thể thực hiện gửi mail, gửi thông tin góp ý cho ban biên tập cổng).
- Đánh giá về nội dung cơ sở dữ liệu pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp
- Tính toàn diện của hệ thống văn bản pháp luật
- Về số lượng văn bản được đăng tải:
Điều 157 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đưa ra yêu cầu: “văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành, trừ văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước, phải được đăng tải toàn văn trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật”. Đây là một quy định đúng đắn, phải thực hiện nghiêm chỉnh yêu cầu này thì Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật mới thực sự đúng với tên gọi.
Tuy nhiên, hiện tại văn bản pháp luật chưa được đăng tải đầy đủ theo yêu cầu trên. Thực hiện tra cứu với cùng tiêu chí (tra cứu loại văn bản “nghị định” được ban hành từ 01/01/1945 đến nay) trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và trên trang
http://thuvienphapluat.vn/, kết quả của Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật là 3510 văn bản, kết quả của trang Thư viện pháp luật là 4308 văn bản.
Để có thể kết luận các văn bản pháp luật nào liên quan đến đầu tư, doanh nghiệp bị thiếu cần phải có một cuộc khảo sát vô cùng công phu mà phạm vi bài tham luận này không thể đề cập. Tuy nhiên, đầu tư, doanh nghiệp là hai lĩnh vực rộng, có tính bao trùm, số lượng văn bản pháp luật hoàn toàn không có liên quan đến đầu tư, doanh nghiệp là rất ít. Vì vậy, việc Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật đăng tải không đầy đủ văn bản pháp luật cũng sẽ ít nhiều dẫn tới việc Cơ sở dữ liệu pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp còn có thiếu sót.
- Về các chỉ mục của một văn bản pháp luật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật:
Các chỉ mục của một văn bản quy phạm pháp luật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật bao gồm: Toàn văn, Thuộc tính, Lịch sử, VB liên quan, Lược đồ, Bản PDF, Tải về, Bản in. Với nội dung được thể hiện trong các chỉ mục này, người đọc có thể dễ dàng có được cái nhìn tổng thể, toàn diện về văn bản pháp luật cần sử dụng.
- Tính cập nhật và tính chính xác của cơ sở dữ liệu pháp luật
Là một cơ sở dữ liệu pháp luật do Nhà nước xây dựng và quản lý, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật có điều kiện để cập nhật kịp thời và chính xác các văn bản pháp luật mới, các văn bản pháp luật sửa đổi, bổ sung và các văn bản pháp luật hợp nhất khi các văn bản này được ban hành. Vì vậy, nhìn chung, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật nói chung và Cơ sở dữ liệu pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp nói riêng có tính cập nhật và tính chính xác cao.
- Giải thích pháp luật, hướng dẫn thực hiện pháp luật
Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật không chỉ được xây dựng thành một trang lưu trữ, sắp xếp các văn bản pháp luật mà còn hướng đến việc góp phần nâng cao sự hiểu biết pháp luật và thực hiện tốt pháp luật của người dân.
Để thực hiện mục tiêu này Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật đã xây dựng chuyên mục “tình huống pháp luật” để đưa các quy định pháp luật vào tình huống cụ thể. Từ đó giải thích và hướng dẫn cách ứng xử đúng luật khi ở trong các tình huống đó. Đây là một biện pháp sáng tạo, có hiệu quả cao. Qua tìm hiểu sơ bộ, kho tình huống pháp luật của Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật có bao gồm tương đối nhiều các tình huống pháp luật liên quan đến đầu tư, doanh nghiệp.
Tuy vậy, Các tình huống pháp luật có giá trị vì tính cụ thể nhưng cũng vì đi vào chi tiết nên không có khả năng tạo ra được cách giải thích luật có hệ thống và toàn diện. Do đó, để thực hiện được mục tiêu nêu trên, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật còn thiếu những phân tích có chiều sâu hơn và có tính nguyên tắc về các quy định pháp luật quan trọng hoặc phức tạp hoặc còn có ý kiến trái chiều về cách hiểu, cách áp dụng.
- Đánh giá mức độ thuận lợi trong khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp
Mức độ thuận lợi trong việc khai thác cơ sở dữ liệu pháp luật để phục vụ cho hoạt động đầu tư, doanh nghiệp phụ thuộc vào tính liên kết của các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực đầu tư và doanh nghiệp.
- Tính liên kết giữa các văn bản pháp luật theo chiều ngang còn hạn chế
Có thể hiểu sự liên kết theo chiều ngang giữa các văn bản pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp nghĩa là sự liên kết giữa các văn bản pháp luật thuộc nhiều nhóm lĩnh vực khác nhau nhưng đều liên quan đến hoạt động đầu tư, doanh nghiệp. Mối liên kết theo chiều ngang giữa các văn bản pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp tạo nên một khung pháp lý toàn diện liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh. Tìm hiểu khung pháp lý này là nhu cầu thiết yếu và chính đáng của nhà đầu tư khi tìm kiếm một cơ hội đầu tư, khi thành lập một doanh nghiệp.
Việc đầu tư, thành lập và hoạt động của một doanh nghiệp không chỉ liên quan đến loại hình, quy chế tổ chức doanh nghiệp (được quy định trong Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn) mà còn chịu sự điều chỉnh của các nhóm văn bản pháp luật lao động, tài chính, thương mại, đất đai, xây dựng, an ninh trật tự, môi trường, xử phạt hành chính, hình sự, nhóm văn bản về tố tụng,... do Việt Nam ban hành và quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Các văn bản pháp luật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật được sắp xếp, phân loại theo cấp ban hành bao gồm Cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật trung ương và cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật địa phương. Ở mỗi cấp, các văn bản pháp luật lại được phân loại theo nhiều cách tùy thuộc vào việc lựa chọn tiêu chí để phân loại trong số các tiêu chí sau:
- Chủ thể ban hành (Quốc hội/Chính phủ/Các bộ, cơ quan ngang bộ/...)
- Loại văn bản (văn bản quy phạm pháp luật/văn bản hợp nhất/văn bản điều hành; Hiến pháp/Bộ luật/Luật/Nghị định/...)
- Năm ban hành (1945 đến 1950/1951 đến 1960/...)
- Tình trạng hiệu lực (văn bản có hiệu lực trong tháng/văn bản hết hiệu lực trong tháng/...)
- Ngoài ra, dựa vào tiêu chí số lượt tra cứu, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật đưa ra danh sách các văn bản được xem nhiều và văn bản được quan tâm.
Cách tra cứu, tìm kiếm văn bản pháp luật cũng tương ứng các cách sắp xếp như trên. Người dùng có thể lựa chọn một hoặc nhiều tiêu chí trong số các tiêu chí sau để tìm kiếm: từ khóa, loại văn bản, thời gian ban hành, cơ quan ban hành, tình trạng hiệu lực, loại CSDL (trung ương hay địa phương).
Đây là cách sắp xếp, phân loại, tra cứu được áp dụng cho toàn bộ Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong đó có Cơ sở dữ liệu pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp. Tuy nhiên, cách sắp xếp này chỉ phù hợp khi người dùng đã có định hướng cụ thể về văn bản pháp luật cần tra cứu, đã nắm được một số thuộc tính nhất định của văn bản (tên/số ký hiệu/trích yếu/thời gian ban hành/...).
Với cách phân loại, sắp xếp, tra cứu văn bản này, nếu người dùng mới chỉ xác định được lĩnh vực pháp luật muốn tra cứu là “đầu tư” hoặc “doanh nghiệp” thì người dùng sẽ gặp khó khăn vì không biết phải bắt đầu tra cứu như thế nào. Việc tìm kiếm theo từ khóa “đầu tư”, “doanh nghiệp” sẽ đưa tới hai loại kết quả: hoặc là phạm vi kết quả quá hẹp (nếu tìm kiếm trong tiêu đề) hoặc phạm vi kết quả quá rộng (nếu tìm kiếm trong trích yếu). Các kết quả tìm kiếm trong trường hợp này không hề được sắp xếp theo một logic liên kết nào (như có cùng cơ quan ban hành/ thuộc cùng một nhóm lĩnh vực nhỏ) mà cũng chỉ được sắp xếp thứ tự đơn thuần theo ngày ban hành/ngày hiệu lực/độ chính xác của kết quả.
Nếu không có sự hỗ trợ của một bên thứ ba có hiểu biết nhất định về pháp luật và kinh doanh thì một nhà đầu tư, dù là trong nước hay nước ngoài, đều sẽ lúng túng khi bắt tay vào việc nghiên cứu các quy định pháp luật để quyết định đầu tư, kinh doanh. Đồng thời, cũng chính vì không được sắp xếp theo lĩnh vực nên khó mà xác định chính xác đâu là Cơ sở dữ liệu pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp.
- Tính liên kết giữa các văn bản pháp luật theo chiều dọc tương đối hoàn thiện
Có thể hiểu sự liên kết theo chiều dọc giữa các văn bản pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp nghĩa là sự liên kết giữa các văn bản pháp luật thuộc các cấp độ, loại văn bản của cùng một nhóm lĩnh vực.
Tính liên kết theo chiều dọc giữa các văn bản pháp luật nói chung và văn bản pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp nói riêng trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật được thể hiện trong phần “lược đồ” của một văn bản pháp luật với thông tin đầy đủ về: văn bản căn cứ; văn bản dẫn chiếu; văn bản được hướng dẫn; văn bản bị thay thế/ bãi bỏ/ hủy bỏ/ chưa xác định; văn bản bị đình chỉ, văn bản bị thay thế/ bãi bỏ/ hủy bỏ/ chưa xác định 1 phần; văn bản bị đình chỉ 1 phần; văn bản được sửa đổi, bổ sung.
Đặc biệt, bộ pháp điển điện tử về doanh nghiệp (chủ đề số 12 – đề mục số 1) và đầu tư (chủ đề số 34 – đề mục số 6) đã được thẩm định, góp phần nâng cao tính liên kết theo chiều dọc giữa các văn bản pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp.
- Tính liên kết của các văn bản pháp luật với các cơ sở dữ liệu có liên quan chưa đầy đủ
Có thể đến các cơ sở dữ liệu có liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh như cổng thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài (
https://dautunuocngoai.gov.vn/fdicơ sở dữ liệu thông tin đầu tư Việt Nam
http://ipc.mpi.gov.vn/), cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia (
https://dangkykinhdoanh.gov.vn cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính cổng thông tin điện tử pháp điển...
Tuy nhiên, hiện tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật mới chỉ có đường dẫn liên kết tới cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, cổng thông tin điện tử pháp điển.
- Giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở dữ liệu pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp
Cơ sở dữ liệu Quốc gia có thể xem như Thư viện Quốc gia về văn bản pháp luật, là nơi không chỉ chính thức đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành, mà còn là nơi thực hiện các hoạt động bổ trợ như phân loại, sắp xếp, phân loại danh mục, cung cấp công cụ tìm kiếm, đăng tải nội dung giải thích pháp luật ……. Cơ sở dữ liệu pháp luật về đầu tư nằm trong cơ sở dữ liệu Quốc gia về văn bản pháp luật cần là nơi tập hợp đầy đủ nhất, chính xác, toàn diện và kịp thời hệ thống các văn bản có liên quan trực tiếp đến tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp và các nhà đầu tư.
Từ một số điểm phân tích tại mục I trên đây, chúng tôi cho rằng, để hoàn thiện cơ sở dữ liệu pháp luật về đầu tư, cần có một số biện pháp sau đây:
- Mở rộng diện văn bản được đăng tải và cập nhật trên cơ sở dữ liệu Quốc gia về văn bản pháp luật.
Theo quy định hiện này, “
Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật là tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi tắt là văn bản) dưới dạng văn bản điện tử do Chính phủ thống nhất quản lý, bao gồm các cơ sở dữ liệu thành phần: Cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật Trung ương và Cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật địa phương”
[3].
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015. Như vậy, Cơ sở dữ liệu Quốc gia về pháp luật không đăng tải và cập nhật các loại văn bản pháp luật khác, bao gồm: Văn bản hành chính (
Quyết định (cá biệt), chỉ thị (cá biệt), thông cáo, thông báo, chương trình, kế hoạch, phương án, đề án, báo cáo, biên bản, tờ trình, hợp đồng, công văn, công điện, giấy chứng nhận, giấy uỷ nhiệm, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy đi đường, giấy biên nhận hồ sơ, phiếu gửi, phiếu chuyển); Văn bản chuyên ngành (
Các hình thức văn bản chuyên ngành do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan quản lý ngành quy định sau khi thoả thuận thống nhất với Bộ trưởng Bộ Nội vụ); Văn bản của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (
Các hình thức văn bản của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội do người đứng đầu cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quy định)
[4].
Trên thực tế hiện nay, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp, không chỉ có các văn bản quy phạm pháp luật, mà còn có hàng trăm văn bản hành chính cá biệt hướng dẫn các hoạt động của doanh nghiệp được ban hành bởi các cơ quan khác nhau. Các văn bản đó được đăng tải một cách ngẫu hứng và tùy tiện trên trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành, có văn bản đăng nhanh, có văn bản đăng rất chậm, thậm chí có văn bản không đăng tải. Tình trạng không nhất quán đó tạo ra một thực tế không minh bạch trong hoạt động quản lý Nhà nước, và là kẻ hở để một số cán bô, công chứng tư lợi hoặc phục vụ cho nhóm lợi ích.
Do đó, chúng tôi cho rằng, mọi văn bản pháp luật do cơ quan Nhà nước ban hành đều phải được đăng tải và cập nhất trên một địa chỉ duy nhất là cơ sở dữ liệu Quốc gia về văn bản pháp luật. Coi việc đăng tải là một trong những điều kiện để văn bản có hiệu lực áp dụng. Chỉ bằng hành động quyết liệt như vậy, bắt buộc cơ quan ban hành phải thực hiện việc minh bạch, công khai việc ban hành văn bản và đăng tải văn bản thì mới tạo ra một môi trường đầu tư minh bạch, thuận lợi, tạo điều kiện để các doanh nghiệp phát triển.
- Đẩy mạnh tập trung và thống nhất cơ sở dữ liệu văn bản
Hiện nay, có quá nhiều trang thông tin điện tử đăng tải văn bản pháp luật , nhằm đăng tải các văn bản do chính cơ quan đó ban hành hoặc cơ quan cấp trên ban hành. Có thể nói, mỗi cơ quan đều có một hệ thống cơ sở dữ liệu văn bản của chính cơ quan đó và cơ quan cấp trên.
Việc đăng tải như vậy tạo sự phân mảnh và rời rạc về nguồn văn bản và thông tin về văn bản, gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc tra cứu văn bản, trích xuất văn bản. Bên cạnh đó, cùng với hiện tượng trăm hoa đua nở trên internet, hầu như tổ chức, đơn vị nào cũng có thư mục riêng về đăng tải văn bản, nhưng chất lượng, độ chính xác của thông tin lại không có ai kiểm chứng và đảm bảo, dẫn tới trình trạng doanh nghiệp bị loạn thông tin, văn bản cần thì không có, văn bản không cần lại đầy rẫy trên mạng. Rất nhiều văn bản do các Bộ, ngành, cơ quan ban hành không đáp ứng đúng quy định tại Nghị định 52/2015/NĐ-Cp về các thông tin cơ bản của văn bản quy phạm pháp luật được đăng tải bao gồm:
a) Số, ký hiệu, trích yếu, nội dung văn bản, loại văn bản, cơ quan ban hành, họ và tên người ký ban hành, chức danh người ký ban hành, ngày ban hành, ngày có hiệu lực, tình trạng hiệu lực;
b) Văn bản liên quan gồm văn bản làm căn cứ pháp lý ban hành và các văn bản được dẫn chiếu tới trong văn bản;
c) Quá trình thay đổi hiệu lực của văn bản;
d) Những thông tin cần thiết khác (nếu có).
Do đó, chúng tô cho rằng, Chính phủ cần quyết liệt trong việc yêu cầu các cơ quan Nhà nước đóng cửa thư mục đăng tải văn bản pháp luật của mình mà thực hiện việc đăng tải văn bản đó trên cơ sở dữ liệu Quốc gia về văn bản pháp luật.
- Coi việc đăng tải văn bản pháp luật lên cơ sở dữ liệu Quốc gia về văn bản pháp luật là điều kiện có hiệu lực
Nhằm khắc phục tình trạng ban hành văn bản pháp luật trái quy định, tư lợi hoặc phục vụ cho lợi ích nhóm, hoặc cẩu thả trong quá trình quản nhà nước, chúng tôi cho rằng, Chính phủ cần nghiên cứu và đưa ra quy định về điều kiện có hiệu lực của bất kỳ văn bản nào do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành là phải đăng tải công khai lên Cơ sở dữ liệu Quốc gia về văn bản pháp luật, ngoại trừ văn bản mật, hoặc văn bản chỉ đạo điều hành trong một số trường hợp khẩn cấp.
Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP). Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo... Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân như: Cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương. Có thể nói vai trò của DN không chỉ quyết định sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định và lành mạnh hoá các vấn đề xã hội. Có vai trò và đóng góp to lớn như vậy, nhưng các hoạt động của doanh nghiệp và hoạt động đầu tư lại nằm ở vị trị hết sức nhạy cảm, dễ tổn thương do cùng lúc chịu sự tác động từ nhiều nguồn (tác động quản lý từ phía nhà nước, tác động từ trách nhiệm với người lao động và xã hội, tác động từ các quy luật của kinh tế thị trường, tác động từ các yếu tố về nguồn vốn, năng lực tài chính …), nhưng vẫn phải đảm bảo mọt hoạt động phải nằm trong khuôn khổ pháp luật, thượng tôn pháp luật.
Do đó, để đảm bảo doanh nghiệp có một môi trường đầu tư và kinh doanh minh bạch, dễ dự đoán và ít tiêu cực, đặc biệt là ở các địa phương xa trung tâm thì điều kiện tiên quyết là phải có khả năng truy cập và sử dụng dữ liệu về văn bản pháp luật của Trung ương và địa phương bằng một cách kênh chính thống, đầy đủ, toàn diện và chính xác. Chỉ với các hành động quyết liệt, coi việc đăng tải công khai là điều kiện có hiệu lực của văn bản thì các cơ quan có thẩm quyền mới tuân thủ một cách nghiêm túc về minh bạch thông tin, minh bạch về các hoạt động chỉ đạo, điều hành của mình.
- Cung cấp văn bản bằng tiếng nước ngoài trên cơ sở dữ liệu Quốc gia về văn bản pháp luật.
Cùng với xu thế quốc tế hóa, xu thế hội nhập, môi trường kinh doanh và thị trường Việt nam ngày càng đón nhận nhiều hơn sự hiện diện của các nhà đầu tư nước ngoài, thương nhân nước ngoài, tuy nhiên, qua thực tiễn kinh nghiệm mà chúng tôi nhận thấy rằng, hiện có rất ít văn bản pháp luật của Việt nam được dịch sang tiếng nước ngoài, trong đó Tiếng Anh quốc tế là ngôn ngữ phổ dụng nhất hiện nay. Trước nhu cầu của nhà đầu tư nước ngoài, thương nhân nước ngoài, các đơn vị tự thực hiện việc biên dịch và phát tán trên mạng Internet nhưng chất lượng không đảm bảo, thậm chí hiểu sai, dịch sai.
Để pháp luật Việt nam có thể tiếp cận được với các doanh nghiệp nước ngoài, nhà đầu tư và các tổ chức quốc tế, thì cơ sở dữ liệu Quốc gia nên tổ chức biên dịch và đăng tải song song văn bản Tiếng Việt và Tiếng anh để đảm bảo tính chính xác, tập trung và thống nhất.
Một điều đáng lưu ý, là mặc dù hiện nay trên trang
http://www.vbpl.vn đã có phần tiếng Anh, tuy nhiên, dưới góc độ của tác giả bài viết, chúng tôi coi đây là một nỗ lực của cơ quan thực hiện, nhưng chưa nhận thấy cơ sở pháp lý của hoạt động đó. Điều đó có nghĩa rằng, để việc đăng tải văn bản và nội dung bằng Tiếng Anh, cần xác lập một cơ sở pháp lý chắc chắn, rõ ràng và có tính ràng buộc cao để bất kỳ văn bản nào khi đăng tải lên đều có ít nhất 02 ngôn ngữ song song là Tiếng Việt và Tiếng Anh.
- Tăng cường độ tương tác giữa người dùng và Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật thông qua việc bổ sung tính năng hỏi – đáp cho chuyên mục Tình huống pháp luật.
Hiện tại, chuyên mục tình huống pháp luật chỉ đăng tải những tình huống đã được chuẩn bị sẵn, các tình huống này ít nhiều sẽ không sát hoặc không theo kịp những tình huống đa dạng phát sinh trong thực tế. Khi bổ sung tính năng hỏi – đáp, người dùng có thể thông qua giao diện hỏi – đáp để gửi câu hỏi tới ban biên tập. Câu hỏi sẽ được bộ phận tiếp nhận câu hỏi chuyển đến các bộ phận chuyên môn hoặc cơ quan liên quan để trả lời. Nội dung câu trả lời sẽ được kiểm tra cả về chất lượng và hình thức trước khi ban biên tập đăng tải lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật để trả lời cho người dùng và bổ sung vào kho tình huống pháp luật của hệ thống.
Bên cạnh đó, cần quy định nghĩa vụ của các cơ quan Nhà nước trong việc giải đáp các thắc mắc, câu hỏi từ cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư thông qua cơ sở dữ liệu Quốc gia về văn bản pháp luật. Với các văn bản yêu cầu giải đáp do doanh nghiệp, nhà đầu tư trực tiếp gửi tới cơ quan, việc ban hành văn bản trả lời đồng thời phải được đăng tải công khai trên trang thông tin điện tử của cơ sở dữ liệu Quốc gia về văn bản pháp luật.
- Tăng cường các công cụ hỗ trợ khác cho doanh nghiệp và nhà đầu tư trên trang thông tin điện tử
Trên trang thông tin điện tử của cơ sở dữ liệu Quốc gia về văn bản pháp luật, cần có bổ sung một số công cụ hỗ trợ như:
- Bổ sung các bài viết phân tích, bình luận của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia về các quy định pháp luật quan trọng hoặc phức tạp hoặc còn có ý kiến trái chiều về cách hiểu, cách áp dụng nhằm tạo ra cách hiểu pháp luật sâu sắc hơn cho người dân. Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật có thể mở ra tính năng bình luận, trao đổi về các vấn đề pháp lý liên quan đến mỗi bài viết. Đây cũng có thể xem là một kênh để khảo sát ý kiến người dân về các quy định của pháp luật hiện hành trong quá trình thực hiện hoạt động kiểm tra, rà soát và xây dựng pháp luật.
- Bổ sung cách phân loại văn bản pháp luật theo lĩnh vực đầu tư, doanh nghiệp. Tìm hiểu môi trường pháp lý là một trong những bước đầu tiên của việc nghiên cứu thị trường để chuẩn bị đầu tư. Vì vậy, việc “quy hoạch” văn bản pháp luật theo từng lĩnh vực, sau đó thiết lập một sơ đồ thể hiện sự phân nhánh các lĩnh vực và mối liên kết, liên hệ giữa các lĩnh vực là điều vô cùng quan trọng và có ý nghĩa để thu hút đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi về pháp lý cho những dự án kinh doanh, đặc biệt là những ý tưởng khởi nghiệp.
- Tích hợp Cổng thông tin điện tử pháp điển (http://phapdien.moj.gov.vn/) vào trang thông tin điện tử của cơ sở dữ liệu Quốc gia về văn bản pháp luật (http://vbpl.vn).
Pháp điển là một hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm “
rà soát, tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành, trừ Hiến pháp, để xây dựng Bộ pháp điển”
[5]. Nguồn văn bản pháp điển là các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực, và mục đích cuối cùng của việc pháp điển là nhằm cung cấp thêm một phương tiện để pháp luật có thể đi sâu và gần hơn với đời sống. Chúng tôi cho rằng, việc pháp điển là một biện pháp hữu hiệu để hệ thống hóa quy định pháp luật theo các chủ đề có liên quan trực tiếp đến tổ chức, hoạt động và các quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp, nhà đầu tư. Bộ pháp điển với các liên kết tới các văn bản pháp luật trên cơ sở dữ liệu Quốc gia sẽ là cách thức hữu hiệu để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nhà đầu tư trong việc tiếp cận, nắm bắt và áp dụng đúng quy định pháp luật hiện hành./.