Thứ nhất, về công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ: Hàng năm, tổ chức từ 01 đến 02 cuộc tập huấn, trao đổi về nghiệp vụ kiểm tra văn bản cho đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản tại các sở, ban, ngành và UBND huyện, thị xã, thành phố. Bên cạnh đó, sở Tư pháp đã biên soạn tài liệu cấp phát cho các đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản của các sở, ban, ngành và phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố; ban hành văn bản hướng dẫn, đôn đốc, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản QPPL.
Thứ hai, về kiện toàn tổ chức, bố chí biên chế: Cấp tỉnh, đã thành lập phòng kiểm tra văn bản QPPL thuộc sở Tư pháp, với 03 biên chế chuyên trách thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản QPPL. Tại các sở, ban, ngành: đã có 01 cơ quan thành lập Ban pháp chế (sở Tài chính), có 04 cơ quan bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác pháp chế, thành lập đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản gồm 19 thành viên. Cấp huyện, 09 phòng Tư pháp cấp huyện hiện có 31 cán bộ có nhiệm vụ tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện công tác Tư pháp theo quy định, trong đó có nhiệm vụ giúp UBND cấp huyện thực hiện hoạt động kiểm tra văn bản QPPL. Cấp xã, Công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã hiện có tại 180/180 xã, phường, thị trấn, trong đó có 74/180 xã bố trí 02 công chức Tư pháp - Hộ tịch thực hiện công tác tư pháp theo quy định, trong đó có nhiệm vụ giúp UBND cấp xã thực hiện hoạt động tự kiểm tra văn bản QPPL.
Thứ ba, xây dựng hệ cơ sở dữ liệu kiểm tra văn bản: tiến hành tương đối tốt việc rà soát, xác định hiệu lực của văn bản do HĐND, UBND các cấp ban hành để phục vụ cho việc lập hệ cơ sở dữ liệu văn bản; phát hành các tập văn bản QPPL đang còn hiệu lực đã được hệ thống hoá; cập nhật thường xuyên các văn bản QPPL do HĐND, UBND cấp tỉnh và cấp huyện ban hành trên Công báo tỉnh và Cổng thông tin điện tử của tỉnh; một số cơ quan còn thường xuyên bổ sung các văn bản mới ban hành vào trang thông tin điện tử của cơ quan.
Thứ tư, bố trí kinh phí cho hoạt động kiểm tra: Theo số liệu báo báo của sở Tư pháp hàng năm về công tác kiểm tra văn bản QPPL, số kinh phí cấp cho hoạt động kiểm tra văn bản QPPL như sau: Năm 2011, UBND tỉnh đã cấp cho Sở Tư pháp số kinh phí 80.000.000 đồng. Năm 2012, UBND tỉnh đã cấp cho Sở Tư pháp số kinh phí 135.000.000 đồng. Năm 2013, UBND tỉnh đã cấp cho Sở Tư pháp số kinh phí 150.000.000 đồng; Cấp huyện: có 02/09 đơn vị được cấp kinh phí phục vụ công tác kiểm tra văn bản gồm thành phố Yên Bái 30 triệu đồng, Mù Cang Chải 30 triệu đồng. Năm 2014 UBND tỉnh đã cấp cho Sở Tư pháp số kinh phí 200.000.000 đồng; cấp huyện có 02/09 phòng Tư pháp được UBND cấp huyện cấp kinh phí gồm thành phố Yên Bái 48.000.000 đồng, huyện Mù Cang Chải 30.000.000 đồng.
Thứ năm, về một số kết quả thực hiện hoạt động kiểm tra văn bản:
Về công tác tự kiểm tra văn bản: Từ 01/01/2010 đến hết ngày 31/12/2014, tổng số văn bản được tự kiểm tra trên địa bàn tỉnh là 1.885 văn bản, trong đó cấp tỉnh tự kiểm tra 225 văn bản, cấp huyện tự kiểm tra 123 văn bản, cấp xã tự kiểm tra 1.537 văn bản. Qua kiểm tra đã phát hiện và đề nghị xử lý 26 văn bản, trong đó cấp tỉnh 21 văn bản, cấp huyện 05 văn bản.
Về kết quả kiểm tra văn bản theo thẩm quyền do cơ quan ban hành văn bản gửi đến: Từ 01/01/2010 đến 31/12/2014, tổng số văn bản kiểm tra theo thẩm quyền do cơ quan ban hành văn bản gửi đến cơ quan kiểm tra là 1.829 văn bản, trong đó cấp tỉnh kiểm tra là 308 văn bản, cấp huyện kiểm tra 1521 văn bản. Qua kiểm tra đã phát hiện và kiến nghị xử lý 131 văn bản do cấp huyện và cấp xã ban hành trái pháp luật, trong đó cấp huyện là 27 văn bản, cấp xã là 104 văn bản. Về kết quả kiểm tra theo thẩm quyền trực tiếp tại cấp huyện, cấp xã: từ 01/01/2010 đến 31/12/2014 đã tổ chức 202 đợt kiểm tra văn bản trực tiếp theo thẩm quyền với tổng số 1.332 văn bản, trong đó cấp tỉnh tổ chức 21 đợt kiểm tra với 204 văn bản, cấp huyện tổ chức 181 đợt kiểm tra với 1.128 văn bản. Qua kiểm tra đã phát hiện và kiến nghị xử lý 221 văn bản, trong đó cấp huyện là 54 văn bản, cấp xã là 167 văn bản.
Mặc dù công tác kiểm tra văn bản QPPL đã được các cấp chính quyền địa phương quan tâm, chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách toàn diện như: bố trí cán bộ, công chức có năng lực, trình độ làm công tác kiểm tra văn bản QPPL; đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản từng bước được củng cố và kiện toàn; kinh phí và các điều kiện bảo đảm khác cho công tác kiểm tra văn bản đã được quan tâm hơn; hiệu quả hoạt động kiểm tra được nâng lên; quy trình kiểm tra văn bản được tuân thủ; các phương thức kiểm tra văn bản được sử dung linh hoạt, đa dạng. Tuy nhiên, bênh cạnh đó vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như vệc gửi văn bản để kiểm tra còn thực hiện chưa đầy đủ, chậm so với quy định; hoạt động kiểm tra văn bản QPPL được tiến hành nhưng còn còn có tính chất đối phó, hình thức, hiệu quả chưa cao (nhất là ở cấp huyện và cấp xã); còn tình trạng kiểm tra nhầm đối tượng; việc kiểm tra văn bản có chứa QPPL nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản QPPL, văn bản có chứa QPPL hoặc có thể thức và nội dung như văn bản QPPL do cơ quan, người có thẩm quyền tại địa phương ban hành thường bị động, chậm trễ và chưa thường xuyên. Những tồn tại, hạn chế trên xuất phát từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan như: hệ thống pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản QPPL còn thiếu, chưa đồng bộ, cụ thể; kinh phí phục vụ cho công tác kiểm tra văn bản vẫn còn thấp, chưa được đảm bảo; nhận thức của lãnh đạo cơ quan ban hành văn bản về vai trò của hoạt động kiểm tra văn bản pháp luật chưa cao; năng lực, trình độ cán bộ kiểm tra và cộng tác viên kiểm tra văn bản QPPL; chưa có chế độ đãi ngộ thoả đáng cho cán bộ làm công tác kiểm tra văn bản QPPL; công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ và tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa thường xuyên và hiệu quả. Trong thời gian tới để thực hiện tốt hơn nữa hoạt động kiểm tra văn bản QPPL của UBND cần có giải pháp để khắc phục những tồn tại hạn chế trên./.